TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 157/2024/HS-ST Ngày 15-8-2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Trâm.
Ông Đỗ Quang Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 139/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/HSST-QĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Châu Khánh H (Tên gọi khác: Đ), S năm 1999 tại tỉnh Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố H, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Suông C và bà Nguyễn Thị T; Tiền án, tiền sự: Không.
- Trần Ngọc H1, Sinh năm 1994 tại tỉnh Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố B, phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc P và bà Phạm Thị T1; Có vợ tên là Nguyễn Thị Thảo X (Đã ly hôn) và 01 người con; Tiền án, tiền sự: Không.
- Ngày 01/6/2011, Trần Ngọc H1 bị Công an phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng.
- Ngày 10/5/2013, Trần Ngọc H1 bị Công an phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
- Ngày 01/7/2013, Trần Ngọc H1 bị Công an thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; đã nộp phạt ngày 16/7/2013.
- Bùi Văn H2 (Tên gọi khác: T2), S năm 1987 tại tỉnh Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố H, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T3 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T (Đã chết); Có vợ tên là Nguyễn Thị Thùy D và 03 người con; Tiền án, tiền sự: Không.
- Ngày 07/10/2014, Bùi Văn H2 (T2) bị Công an phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi gây mất trật tự khu dân cư; đã nộp phạt ngày 07/10/2014.
Bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
Nhân thân:
Bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
Nhân thân:
Bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Lê Văn T4 - Sinh năm 1974 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Tấn Đ1 - Sinh năm 1977 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố G, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Thanh T5 (T6) - Sinh năm 1987 (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Đức L - Sinh năm 2001 (Vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Khu phố H, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 22/10/2023, ông Lê Văn T4 - Sinh năm 1974; trú tại: Khu phố A, phường Đ, thành phố P - T ngồi nhậu tại quán C15 thuộc khu phố G, phường Đ, thành phố P - T do ông Nguyễn Tấn Đ1 - Sinh năm 1977 làm chủ. Tại đây, sát bên bàn ông T4 có một nhóm thanh niên cũng đang ngồi nhậu, gồm: Châu K (Đen), Trần Ngọc H1, Bùi Văn H2(T2), Nguyễn Thanh T5 (T6) và Nguyễn Đức L. Trong lúc ăn nhậu, H nhìn qua bàn ông T4 thì thấy ông T4 đang nhìn mình; nghĩ là ông T4 nhìn đểu nên H đứng dậy chửi ông T4 và hai bên có lời qua tiếng lại với nhau. H cầm ghế nhựa (loại có tựa lưng) chạy qua và đánh vào người ông T4, ông T4 đưa tay trái lên đỡ nên H đánh trúng tay ông T4. Thấy H đánh ông T4, H1 cũng tham gia dùng tay đánh vào người ông T4. Do bị đánh nên ông T4 cầm nồi lẩu trên bàn hất về phía H và H1 nhưng không trúng ai. Thấy vậy, H cầm ghế nhựa tiếp tục đánh vào người ông T4, Hoàng nhặt vỏ chai bia Miền T7 và hộp nhựa đựng giấy đánh nhiều cái vào vùng đầu ông T4; H2 cũng tham gia dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt và đầu ông T4. Khi đó, được mọi người can ngăn nên H và H1 đi về nhà H. Lúc này, do còn bực tức nên H và H1 mỗi người cầm theo 01 cây mác có chiều dài 1m2 (Có lưỡi bằng kim loại, cán bằng cây tre) quay lại quán C15 nhưng khi đến quán, H1 và H chỉ dùng cây mác chém vào chiếc xô đựng đá và chửi chứ không đánh ông T4, rồi cả hai đi về. Ông T4 được đưa đi bệnh viện để điều trị.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 292/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 04/12/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Sở Y kết luận đối với thương tích của ông Lê Văn T4 như sau:
- Vết thương trước tai trái sẹo liền mờ kích thước (2,5 x 0,1)cm (03%).
- Vết thương tháp mũi sẹo liền mờ kích thước (0,5 x 0,1)cm (03%).
- Vết thương xây xát da 1/3 giữa mặt ngoài sau cẳng tay trái sẹo liền mờ kích thước (2,5 x 0,1)cm (01%).
- 03 vết thương đỉnh đầu sẹo liền tốt mờ di động kích thước (0,9 x 0,1)cm (01%); (0,5 x 0,1)cm (01%); (0,6 x 0,2)cm (01%).
- Vết thương vùng cổ trái phía sau sẹo liền tốt phẳng mờ kích thước (1 x 0,2)cm (02%).
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể của anh Lê Văn T4 tại thời điểm giám định là 11%.
Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương đã qua điều trị nhận định do vật tày tạo nên.
Vật chứng của vụ án:
Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng các bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tôi gồm:
- Các mảnh vỡ vỏ thủy tinh chai bia (đã được niêm phong).
- Các mảnh ghế nhựa bị gãy, bể (đã được niêm phong).
- 02 cây mác có chiều dài 1m2 (Có lưỡi bằng kim loại, cán bằng cây tre).
Trách nhiệm dân sự:
- Bị hại là ông Lê Văn T4 đã nhận số tiền bồi thường là 11.000.000 đồng từ các bị cáo, không có yêu cầu gì thêm về dân sự và làm đơn xin bãi nại cho các bị cáo.
- Ông Nguyễn Tấn Đ1 - Sinh năm 1977; trú tại: Khu phố G, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận là chủ quán C15 không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
Cáo trạng số 141/CT-VKSPR ngày 15/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Châu Khánh H (Đen), Trần Ngọc H1 và Bùi Văn H2 (T2) về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (điểm a, i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận diễn biến sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng đã truy tố. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đồng ý và không có ý kiến hay khiếu nại gì về bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 292/KLTTC T-TTGĐYK-PY ngày 04/12/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Sở Y kết luận đối với thương tích của ông Lê Văn T4. Các bị cáo đã bồi thường cho ông T4 với tổng số tiền là 11.000.000 đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Tấn Đ1 có đơn xin xét xử vắng mặt và trình bày: Vẫn giữ nguyên những lời khai đã khai trước đây tại cơ quan điều tra Công an thành phố P - T. Đối với tài sản tại quán của ông bị hư hỏng là ghế nhựa và vỏ chai bia thì ông không có yêu cầu định giá tài sản nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường dân sự.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Các bị cáo Châu Khánh H (Đen), Trần Ngọc H1, Bùi Văn H2 (T2) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 (điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Châu Khánh H (Đen) mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H1 mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn H2 (T2) mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường đủ và bị hại là ông Lê Văn T4 không yêu cầu gì thêm. Đối với tài sản tại quán của ông Nguyễn Tấn Đ1 bị hư hỏng là ghế nhựa và vỏ chai bia thì ông Đ1 không yêu cầu định giá tài sản, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường dân sự. Bởi vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy các mảnh vỡ vỏ thủy tinh chai bia (đã được niêm phong); Các mảnh ghế nhựa bị gãy, bể (đã được niêm phong) và 02 cây mác có chiều dài 1m2 (Có lưỡi bằng kim loại, cán bằng cây tre). Đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Châu Khánh H (Đ) nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
Bị cáo Trần Ngọc H1 nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, rất ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
Bị cáo Bùi Văn H2 (T2) nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai, rất ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình, lo cho vợ và con.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P - T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Bị hại là ông Lê Văn T4 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Tấn Đ1 có đơn xin xét xử vắng mặt; người làm chứng là anh Nguyễn Thanh T5, Nguyễn Đức L vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời trình bày của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; thấy rằng: Đây là vụ án “Cố ý gây thương tích” do các bị cáo Châu Khánh H (Đen), Trần Ngọc H1, Bùi Văn H2 (T) thực hiện. Mặc dù giữa bị hại Lê Văn T4 và các bị cáo không có mâu thuẫn gì nhưng vào khoảng 19 giờ ngày 22/10/2023; trong lúc ngồi nhậu tại quán C15 thuộc khu phố G, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Bị cáo H nghĩ ông T4 nhìn đểu mình nên đã chửi bới, lời qua tiếng lại và đánh ông T4; H cầm ghế nhựa đánh vào người và tay của ông T4. Bị cáo H1 dùng tay, vỏ chai bia Miền T7 và hộp nhựa đựng giấy đánh vào vùng đầu và người ông T4. Bị cáo H2 dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt và đầu ông T4. Hậu quả ông T4 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%. Cho nên, truy tố, xét xử đối với các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (điểm a, i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.2] Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức, biết được hành vi dùng tay và ghế nhựa, vỏ chai bia (hung khí nguy hiểm) đánh vào thân thể người khác là nguy hiểm và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn; hành vi của mỗi bị cáo có tác động khác nhau, gây ra các hậu quả khác nhau nhưng đều gây ra thương tích cho bị hại nên cùng phải liên đới chịu trách nhiệm đối với hậu quả chung do hành vi phạm tội gây ra. Tuy vậy, để cá thể hóa hình phạt, Hội đồng xét xử phân tích vai trò cụ thể của từng bị cáo như sau:
[2.2.1] Khi đang ngồi nhậu tại quán C15, chỉ vì nghĩ ông Lê Văn T4 nhìn đểu mình, bị cáo Châu Khánh H (Đen) đã đi qua bàn nhậu của ông T4 chửi và hai bên có lời qua tiếng lại với nhau. Bị cáo đi về bàn nhậu của mình cầm ghế nhựa (loại có tựa lưng) chạy qua và đánh vào người ông T4, ông T4 đưa tay trái lên đỡ thì bị bị cáo đánh trúng vào tay. Thấy bị cáo H đánh ông T4, bị cáo Trần Ngọc H1 cũng tham gia dùng tay đánh vào người ông T4. Do bị đánh nên ông T4 cầm nồi lẩu trên bàn hất về phía bị cáo H và H1 nhưng không trúng ai. Thấy vậy, bị cáo H cầm ghế nhựa tiếp tục đánh vào người ông T4, bị cáo Hoàng n vỏ chai bia Miền Trung và hộp nhựa đựng giấy đánh nhiều cái vào vùng đầu ông T4; bị cáo Bùi Văn H2 (T2) cũng tham gia dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt và đầu ông T4.
[2.2.2] Trong vụ án này, các bị cáo đều là những người thực hành tội phạm. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo H và H1 là người hung hăng nhất. Điều đó thể hiện bản tính hung hăng, manh động và lì lợm của các bị cáo. Do đó bị cáo H và H1 phải chịu trách nhiệm hình sự bằng nhau và cao hơn bị cáo H2.
[2.3] Hội đồng xét xử cũng xem xét các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo H1 và H2 có nhân thân xấu. Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; đã bồi thường toàn bộ số tiền mà bị hại yêu cầu, quá trình điều tra bị hại xin bãi nại cho các bị cáo; đây là lần đầu các bị cáo phạm tội; bị cáo Châu Khánh H (Đen) chưa có tiền án, tiền sự, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự từ tháng 03/2018 đến tháng 01/2020. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; sẽ được Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt và áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với các bị cáo.
[2.4] Căn cứ vào các phân tích trên đây, thấy cần phải kịp thời đưa các bị cáo ra xử lý trước pháp luật, áp dụng một mức hình phạt nghiêm; cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra; đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng, chống loại tội phạm này tại địa phương.
[3] Về xử lý vật chứng: 01 (một) túi niêm phong có dấu đỏ của Công an phường Đ bên trong có chứa các mảnh vỡ của vỏ chai bia. 01 (một) túi niêm phong có dấu đỏ của Công an phường Đ bên trong có chứa các mảnh vỡ của ghế nhựa. 02 (hai) cây mác có chiều dài 1m2 (có lưỡi bằng kim loại, cán bằng cây tre). Đây là vật chứng trong vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường đủ và bị hại là ông Lê Văn T4 không yêu cầu gì thêm. Đối với tài sản tại quán của ông Nguyễn Tấn Đ1 bị hư hỏng là ghế nhựa và vỏ chai bia thì ông Đ1 không yêu cầu định giá tài sản, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường dân sự. Bởi vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T về việc định tội và định khung hình phạt; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Các bị cáo Châu Khánh H (Đen), Trần Ngọc H1 và Bùi Văn H2 (T2) phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Châu Khánh H (Tên gọi khác: Đ), Trần Ngọc H1 và Bùi Văn H2 (Tên gọi khác: T2) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Châu Khánh H (Tên gọi khác: Đen) 15 (Mười lăm) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc H1 15 (Mười lăm) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn H2 (Tên gọi khác: T2) 09 (Chín) tháng tù; hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong có dấu đỏ của Công an phường Đ bên trong có chứa các mảnh vỡ của vỏ chai bia. 01 (một) túi niêm phong có dấu đỏ của Công an phường Đ bên trong có chứa các mảnh vỡ của ghế nhựa. 02 (hai) cây mác có chiều dài 1m2 (có lưỡi bằng kim loại, cán bằng cây tre).
Vật chứng nêu trên, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận đang quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật chứng, tài liệu, chứng cứ ngày 01/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
Các bị cáo Châu Khánh H (Đen), Trần Ngọc H1 và Bùi Văn H2 (T2) mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm; có mặt các bị cáo - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 15/8/2024). Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hồng |
Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 157/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Châu Khánh K cùng đồng phạm phạm tội "Cố ý gây thương tích""
