Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/HS-ST

Ngày 14-08-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Hoàng Phú - Thư ký Toà án nhân dân quận

Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nự - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 156/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 07 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 652/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 07 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn T ngày 12 tháng 03 năm 1995 tại Yên Bái. Nơi thường đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái; tạm trú: Số A, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Ngọc K(đã chết) và bà Lương Thị X vợ là Hà Thị M(đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 03/4/2024; tạm giam ngày 11/4/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 50 phút ngày 03/4/2024, Công an phường T nhiệm vụ trên tuyến đường T, phường T, quận L, thành phố H phát hiện thấy Bùi Văn T bộ từ trong ngõ A có biểu hiện nghi vấn về ma túy. Tiến hành kiểm tra, T 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long vàng bướm xanh đựng cạnh phía chân phải của mình rồi bỏ chạy được khoảng 1,5 mét thì bị bắt giữ. Lực lượng Công an đã thu giữ vỏ bao thuốc lá trên và tiến hành kiểm tra thấy bên trong có 02 túi nilon, trong đó có 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 gói giấy kích thước 02x01cm, chứa chất bột màu trắng, dạng cục (MS1) và 01 túi nilon màu đen, bên trong có 01 gói giấy màu trắng, kích thước 02x01cm, chứa chất bột màu trắng dạng cục (MS2) nghi là ma túy. Sau đó, Tổ công tác đã dẫn giải T cùng vật chứng về trụ sở Công an phường T biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen và số tiền 95.000đồng.

Tại Kết luận giám định số 409/KL-KTHS(MT) ngày 10/04/2024 của Phòng K1Công an thành phố H kết luận:

Chất bột màu trắng của mẫu MS1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,11gam, loại Heroine;

Chất bột màu trắng của mẫu MS2 gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,06gam, loại Heroine.

Tại cơ quan điều tra, Bùi Văn T nhận: Vào khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 03/4/2024, T bộ từ nhà Số A Lên khu vực đường T, quận L, thành phố H tìm mua Heroine về sử dụng. Đến nơi, T một người nam giới không quen biết và thỏa thuận mua 300.000đồng ma túy, người nam giới nhận tiền rồi điều khiển xe máy chở T trong ngõ A đi được khoảng 200mét thì bảo T chờ. Một lúc sau, người nam giới quay lại đưa cho T 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 02 túi nilon ma túy, T ở lòng bàn tay phải rồi đi bộ ra đầu ngõ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, do hoảng sợ nên T thả số ma túy vừa mua xuống đất.

Đối với người nam giới đã bán ma túy cho T, do T biết họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý.

Tại Cáo trạng số169/CT-VKS ngày 22 tháng 07 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận L, truy tố bị cáo Bùi Văn T tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn T nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Văn T án từ 15 đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì thư số 409MT/PC09.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen đã qua sử dụng và số tiền 95.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, báo cáo bắt giữ, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào hồi 08 giờ 50 phút ngày 03/4/2024, tại khu vực đầu ngõ A, phường T, quận L, thành phố H cáo Bùi Văn T bắt quả tang có hành vi cất giữ trái phép 0,17gam Heroine để sử dụng. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Văn T tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại xấu đến sức khỏe con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Heroine là chất ma tuý nằm trong danh mục quản lý của Nhà nước, cấm cất giữ, lưu hành dưới mọi hình thức; nhưng để thỏa mãn nhu cầu của mình, bị cáo đã cố ý cất giữ trái phép để sử dụng. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Nhân thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung:

[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[8] Số ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ bị cáo, sau khi lấy đi giám định, lượng còn lại xét là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ;

[9] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen và số tiền 95.000đồng thu giữ của bị cáo; quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí:

[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T13 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T14 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 04 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu huỷ lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì thư số 409MT/PC09;

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen có số Imei: 353964101699221;

(Theo đúng Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 23 tháng 07 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Trả lại cho bị cáo số tiền 95.000₫ (Chín mươi lăm nghìn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

(Số tiền này Công an quận L Uỷ nhiệm chi cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân ngày 29 tháng 7 năm 2024).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩ Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Cơ quan CSĐT CA quận Lê Chân;
  • - Cơ quan THAHS CA quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam CATP Hải Phòng;
  • - Sở tư pháp TP Hải Phòng;
  • - PV06, PC10 CATP Hải Phòng;
  • - UBND phường Kênh Dương, quận Lê Chân, TP Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 157/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger