Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-5-2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình"

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo
Ông Mai Xuân Thường

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2024/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Pham Minh G, sinh năm 1994;

Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Tổ dân phố C, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh;

Địa chỉ cư trú hiện nay: Bahnhofstr.30, 87781 U, Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1996;

Địa chỉ cư trú: K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt (có chứng thực của Tổng lãnh sự quán C tại Frankfurt am M), nguyên đơn anh Phạm Minh G1 trình bày:

Ngày 07 tháng 04 năm 2022, anh và chị Hoàng Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau. Đến tháng 6/2023, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên anh đi xuất khlao động sang nước Cộng hòa liên bang Đ từ đó đến nay chưa về Việt Nam. Thời gian đầu vợ chồng còn liên lạc, nhưng do xa cách địa lý, vợ chồng luôn nghi ngờ nhau không chung thủy nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Hiện nay, vợ chồng không còn tin tưởng nhau nên tính tình và quan điểm sống không hợp nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, anh làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hoàng Thị H.

Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị H có 01 con chung là Phạm Minh K, sinh ngày 25/7/2022. Nếu được ly hôn, do anh không ở Việt Nam nên anh thống nhất giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Phạm Minh G1 hiện đang cư trú và làm việc tại nước Cộng hòa liên bang Đức, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh ủy quyền cho anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1986; nơi làm việc: Văn phòng L, số B đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu, tạm ứng án phí và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, anh đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt.

Theo bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Hoàng Thị H trình bày:

Ngày 07 tháng 04 năm 2022, chị và anh Phạm Minh G1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn do việc làm ăn không thuận lợi. Đến tháng 6/2023, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên anh G1 đi xuất khẩu lao động sang nước Cộng hoà liên bang Đ từ đó đến nay chưa về Việt Nam. Lúc đầu anh G1 mới sang Đức thì vợ chồng còn liên lạc, hỏi thăm nhau. Tuy nhiên, đến cuối năm 2023 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do nghi ngờ nhau không chung thuỷ và không tin tưởng lẫn nhau. Vì bất đồng quan điểm từ trước và do khoảng cách địa lý xa cách nên vợ chồng ít liên lạc với nhau và không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Hiện nay, vợ chồng không còn thương yêu nhau và không còn tình cảm với nhau nên anh G1 làm đơn xin ly hôn thì chị cũng đồng ý.

Về con chung: Chị và anh Phạm Minh G1 có 01 con chung là Phạm Minh K, sinh ngày 25/07/2022. Nếu ly hôn, chị và anh G1 thỏa thuận giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Hoàng Thị H có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nhưng do bận công việc nên chị có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Phạm Minh G1 hiện đang cư trú tại nước Cộng hòa liên bang Đ đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hoàng Thị H có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Vụ án không tiến hành hòa giải được vì anh Phạm Minh G1 không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài và anh G1 đề nghị không tiến hành hòa giải là phù hợp với quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Phạm Minh G1 hiện đang cư trú và làm việc tại nước Cộng hòa liên bang Đức, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh ủy quyền cho anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1986; nơi làm việc: Văn phòng L, số B đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu (có chứng thực của Tổng lãnh sự quán C tại Frankfurt am M) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và anh có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Chị Hoàng Thị H có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An nhưng do bận công việc nên chị có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu và chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Minh G1 và chị Hoàng Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An vào ngày 07 tháng 4 năm 2022, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn do việc làm ăn không thuận lợi. Đến tháng 6/2023, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên anh G1 đi xuất khẩu lao động sang nước Cộng hoà liên bang Đ từ đó đến nay chưa về Việt Nam. Thời gian đầu vợ chồng còn liên lạc, hỏi thăm nhau nhưng đến cuối năm 2023 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do nghi ngờ nhau không chung thuỷ. Từ đó trở đi, vợ chồng ít liên lạc với nhau và không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Hiện tại, anh G1 và chị H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh G1 nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị H. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Phạm Minh G1 và chị Hoàng Thị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Phạm Minh G1 yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam nên chấp nhận.

[3]. Về con chung: Anh Phạm Minh G1 và chị Hoàng Thị H có 01 con chung. Nay ly hôn, anh G1 và chị H thỏa thuận: Chị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Phạm Minh K, sinh ngày 25/07/2022 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh G1 và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa ghi nhận.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Phạm Minh G1 và chị Hoàng Thị H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[5]. Về án phí: Anh Phạm Minh G1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 39; Điều 147; khoản 2, khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phạm Minh G1.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Minh G1 và chị Hoàng Thị H được ly hôn.

2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:

Anh Phạm Minh G1 và chị Hoàng Thị H có 01 con chung;

Giao cho chị Hoàng Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm Minh K, sinh ngày 25/7/2022 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Minh G1 và chị Hoàng Thị H tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh Phạm Minh G1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Anh Phạm Minh G1 phải phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh G1 đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012719 ngày 11/3/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Phạm Minh G1 đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Minh G1 có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Hoàng Thị H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự Việt Nam./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Văn Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 157/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa G và H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger