Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 157/2024/HS-ST

Ngày 08-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

Bà Nguyễn Thị Kim Liên

Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triệu - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2024/HSST-QĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2024/HSST-QĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Viết M, sinh năm 1981 tại Hải Phòng; Giới tính: nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã H, huyện V, Thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: 101/67, ấp D, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết V và bà Đào Thị G; có vợ là Nguyễn Anh Đ và 02 con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017; Nhân thân: Ngày 18/5/2006 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù treo, thời gian thử thách 03 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt từ ngày 28/11/2023 cho đến nay; hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện H; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Vũ Đình Q - Luật sư thuộc Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. (có mặt)

- Bị hại:

  1. Ông Hứa Sơn H, sinh năm 1971 (vắng mặt)
  2. Thường trú: 169/23 khu C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

  3. Ông Tất Hữu B, sinh năm 1970 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: B ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp I, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 00 ngày 25/11/2023, Nguyễn Viết M gặp H1 và L (chưa rõ lai lịch) rủ M cùng đi trộm cắp tài sản tại các công trình, nhà ở để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, M đồng ý. Sau đó, M một mình điều khiển xe Wave màu đen biển số 94E1-042.73, H1 và L cùng đi chung trên 01 xe máy loại Wave, không rõ biển số, cả ba cùng đi lòng vòng xung quanh khu vực xã T. Khi đi đến công trình nhà đang xây dựng kế bên địa chỉ A tổ A, ấp T, xã T, huyện H, M kêu L và H1 đứng ngoài cảnh giới. Còn M một mình đột nhập vào bên trong công trình thấy ông Hứa Sơn H đắp chăn ngủ nên M lấy trộm được 01 lôi xe tự chế hai bánh của ông Tất Hữu B chế đẩy ra ngoài đưa cho H1 và L kéo đi được một đoạn, thì M lấy dây sắt quấn quanh xe của L và L đứng chờ. M và H1 tiếp tục quay lại công trình lấy trộm thêm tài sản khác, gồm: 01 điện thoại hiệu Vivo của ông Hứa Sơn H; 01 máy hàn; 01 máy cắt gỗ; 01 máy cắt sắt cầm tay; 01 máy khoan pin, 01 máy bắn laser của ông Tất Hữu B. Sau khi lấy được tài sản, cả nhóm quay về nhà M ở ấp D, xã Đ, huyện H cất giấu rồi cùng nhau chia tài sản trộm cắp được. M giữ lại xe lôi tự chế hai bánh, điện thoại Vivo S1 màu xanh, máy laser hiệu Makute và máy hàn điện hiệu Jasic; còn máy khoan cầm tay, máy cắt gỗ cầm tay và máy cắt sắt cầm tay H1 và L mang đi. Sau đó, M lấy chiếc điện thoại hiệu ViVo trộm được bán cho 01 người đàn ông lạ mặt (không rõ lai lịch) ở khu vực Cầu D với số tiền 400.000 đồng. Đến ngày 27/11/2023 thì M bị công an mời về làm việc và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên, đồng thời giao nộp các tài sản còn lại cho Công an thu giữ.

Tại bản kết luận giám định số: 153/KL-HĐĐGTS ngày 04/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H xác định: 01 lôi xe tự chế hai bánh trị giá 900.000 đồng; 01 điện thoại hiệu Vivo trị giá 1.500.000 đồng; 01 máy hàn hiệu Jasic trị giá 1.200.000 đồng; 01 máy cắt gỗ cầm tay hiệu FEG trị giá 500.000 đồng; 01 máy cắt sắt cầm tay hiệu LEIYA trị giá 250.000 đồng; 01 máy khoan cầm tay chạy bằng pin hiệu Hitachi trị giá 550.000 đồng, 01 máy bắn laser hiệu Makute trị giá 800.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 5.700.000 đồng.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, M khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 điện thoại Samsung màu đen đã qua sử dụng.
  • - 01 điện thoại OPPO màu xanh đã qua sử dụng.
  • - 01 xe máy Wave RSX màu đen biển số 94E1-042.73.
  • - 01 lôi xe tự chế (đã trả cho bị hại Bon).
  • - 01 máy bắn laser hiệu Makute (đã trả cho bị hại Bon).
  • - 01 máy hàn JASIC (đã trả cho bị hại Bon).
  • - Tiền Việt Nam 1.740.000 đồng.

Về dân sự: Các bị hại Hứa Sơn H yêu cầu bồi thường 2.000.000 đồng, Tất Hữu B yêu cầu bồi thường 2.000.000 đồng. Nguyễn Viết M đã bồi thường cho các bị hại.

Tại Bản cáo trạng số 88/CT-VKS.HM ngày 05 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Tp . đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử bị cáo Nguyễn Viết M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị tuyên bị cáo Nguyễn Viết M phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Viết M từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Trả lại 01 điện thoại Samsung màu đen đã qua sử dụng và 01 điện thoại OPPO màu xanh đã qua sử dụng cho bị cáo Nguyễn Viết M.

Trả lại 01 xe máy Wave RSX màu đen biển số 94E1-042.73 cho bà Nguyễn Anh Đ.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Viết M số tiền 1.740.000 đồng.

Luật sư Vũ Đình Q trình bày bài bào chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Viết M khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Viết M khai nhận: Vì mục đích vụ lợi cá nhân, vào ngày 25/11/2023, tại công trình, nhà ở thuộc xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Viết M đã cùng đồng bọn lén lút lấy trộm 01 lôi xe tự chế hai bánh, 01 máy hàn; 01 máy cắt gỗ; 01 máy cắt sắt cầm tay; 01 máy khoan pin, 01 máy bắn laser của anh B, 01 điện thoại hiệu Vivo của anh H. Tổng trị giá 5.700.000 đồng.

Đối với H1 và L (chưa xác định lai lịch) hiện đang bỏ trốn Cơ quan điều tra tiếp tục truy tìm làm rõ đề nghị xử lý sau.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các vật chứng cùng các tài liệu thể hiện tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Viết M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự của N.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm sở hữu tài sản của công dân, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, tính chất mức độ và hậu quả của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[4] Về nhân thân bị cáo:

Ngày 18/5/2006 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù treo, thời gian thử thách 03 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án.

Tiền án, tiền sự: không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; có đơn xin giảm nhẹ hình phạt của các bị hại nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

[6] Tình tiết tăng nặng: không.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại Samsung màu đen đã qua sử dụng và 01 điện thoại OPPO màu xanh đã qua sử dụng, không dùng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Viết M.

- Đối với 01 xe máy Wave RSX màu đen biển số 94E1-042.73. Qua xác minh được biết chủ sở hữu là bà Trần Thị Ú (sinh năm 1966, địa chỉ: ấp I, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu) đứng tên chủ sở hữu, hiện bà Ú đã chết năm 2020. Nguyễn Viết M khai nhận chiếc xe gắn máy trên là Minh mượn của vợ là Nguyễn Anh Đ. Bà Đ không biết việc M sử dụng xe gắn máy nêu trên làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản. Bà Đ khai nhận chiếc xe trên là tài sản của bà Đ nhưng nhờ mẹ ruột là bà Trần Thị Ú đứng tên dùm, Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại xe này cho bà Nguyễn Anh Đ.

- Đối với số tiền 1.740.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 lôi xe tự chế, 01 máy bắn laser hiệu Makute và 01 máy hàn JASIC đã trả cho bị hại Bon nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về trách nhiệm dân sự: không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết M 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

    Thời hạn tù được tính từ ngày 28/11/2023.

  2. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Trả lại 01 điện thoại Samsung màu đen đã qua sử dụng và 01 điện thoại OPPO màu xanh đã qua sử dụng cho bị cáo Nguyễn Viết M.

    Trả lại 01 xe máy Wave RSX màu đen biển số 94E1-042.73 cho bà Nguyễn Anh Đ.

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn Viết M số tiền 1.740.000 đồng.

    (Vật chứng của vụ án do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 83/QĐ-VKS-HM ngày 06/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn).

  3. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. dân sự;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp.HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - Cơ quan điều tra công an H. HM;
  • - Chi cục THADS H.HM;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 157/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyễn viết minh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger