|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 157/2023/HS-PT Ngày: 07/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Hoa.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Chất
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hồng Hảo - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà:
Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 173/2023TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023, do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T và bị cáo Nguyễn Phi H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2023/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2013 của Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
* Bị cáo kháng cáo:
Phạm Văn T, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn I, xã N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị H1; Vợ Đoàn Thị Thu H2 (đã ly hôn) và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không;
Nguyễn Phi H, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Khu dân cư A, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị C; Tiền án: Tại Bản án số 21/2015/HS-ST ngày 24/4/2015, Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là thành phố C), tỉnh Hải Dương xử phạt H 08 năm 03 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích". H chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/4/2021; Tiền sự: Chưa.
Bị cáo trốn truy nã và ra đầu thú ngày 09/5/2023, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
Bị cáo bị bắt truy nã ngày 03/5/2023, sau đó bị tạm giữ từ ngày 03/5/2023, đến ngày 05/5/2023 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 26/9/2022, Đồng Bá T2 nảy sinh ý định tổ chức cho các đối tượng có nhu cầu đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa để kiếm lời. Để chuẩn bị cho việc đánh bạc Đồng Bá T2 sử dụng điện thoại của mình số 0982.653.xxx gọi cho Nguyễn Văn T3, Phạm Văn T, Dương Văn B rủ Nguyễn Văn T3, Phạm Văn T, Dương Văn B đến nhà mình để đánh bạc và bảo rủ thêm bạn đến để đánh bạc. Sau khi nhận điện thoại của T2, T3 gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T4 bảo T2 rủ đến nhà T2 đánh bạc thì Nguyễn Văn T4 đồng ý (T3, Nguyễn Văn T4 không nhớ số điện thoại của mình do bị rơi mất máy). Lúc này, Nguyễn Thanh T5 đang ngồi cạnh T3 nghe được thì có bảo đi cùng, T3 bảo muốn tham gia đánh bạc thì lên nhà T2. Sau đó T2 nhận được điện thoại từ Đinh Văn C1 số 0904.206.524 thì T2 rủ C1 đến nhà mình đánh bạc cùng mọi người, C1 đồng ý. Khoảng 13 giờ cùng ngày T3, C1, Nguyễn Văn T4, B, Lê Minh Q, Nguyễn Văn M và Mạc Văn T6, sinh năm 1967, trú tại khu dân cư V, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương đến quán bán hàng của T2, địa chỉ: khu dân cư K, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương, thấy vậy T2 bảo mọi người đi theo T2 lên khu vực đồi C ở cùng địa chỉ trên, phía sau nhà trong của T2 để đánh bạc, mọi người đồng ý rồi đi theo T2. Trên đường đi, T2 vào nhà mình ở gần đồi Chim Chích lấy một số bao thuốc lá V, một số chai nước uống cho vào một túi nilon màu đen; 01 chiếu cói màu vàng, kích thước (1,5x1,9) m; 01 bát sứ màu trắng, cao 06 cm, đường kính 11,5 cm; 01 đĩa sứ màu trắng, đường kính 20,5 cm; 01 kéo cầm theo rồi dẫn mọi người đi lên khu Đ. Lên tới lưng chừng đồi, thấy khu vực bằng phẳng, không có ai qua lại, T2 trải chiếu, bỏ các công cụ mang đi xuống chiếu rồi đưa cho Nguyễn Văn T4 chiếc kéo và bảo T4 cắt 04 quân vị từ vỏ bao thuốc lá V mà T2 cầm lên. Cắt xong Nguyễn Văn T4 đưa lại cho T2 chiếc kéo, T2 cất kéo vào chiếc túi vải mưa T2 mang đi để ở trong người. T2 ngồi xuống chiếu xóc cái để cho C1, Q, T4, T3 đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa, được thua bằng tiền (T2 chỉ xóc cái giúp người chơi mà không tham gia đánh bạc), cách thức đánh xóc đĩa là dùng 04 quân vị bằng giấy cứng, hình tròn, có hai mặt trắng - vàng cho vào chiếc bát sứ rồi úp đĩa sứ lên trên rồi xóc; những người chơi sẽ đặt các cửa gồm “Chẵn” là có 02 quân vị trắng, 02 quân vị vàng hoặc 04 quân vị đồng màu; “Lẻ” là 01 quân vị trắng, 03 quân vị vàng hoặc 01 quân vị vàng, 03 quân vị trắng; sau khi đặt các cửa xong thì người cầm cái mở bát để xem kết quả xóc; nếu kết quả về “Chẵn” thì những người chơi đặt cửa “Chẵn” sẽ thắng người cầm cái số tiền bằng số tiền đặt cược và những người chơi đặt cửa “Lẻ” sẽ thua số tiền mà mình
2
đặt cược cho người cầm cái. Tương tự, nếu kết quả về “Lẻ” thì những người chơi đặt cửa “Lẻ” sẽ thắng người cầm cái số tiền bằng số tiền đặt cược và những người chơi đặt cửa “Chẵn” sẽ thua số tiền mà mình đặt cược cho người cầm cái; mức đặt cược tại mỗi cửa thấp nhất là 100.000 đồng/lượt, cao nhất không giới hạn. Khi bắt đầu chơi T2 xóc cái hộ được khoảng 5 đến 6 ván để người chơi tự chơi “chẵn”, “lẻ” tính thắng thua với nhau, thì chuyển cho T3 xóc cái đồng thời "cầm cái", tính thắng thua với Q, C1, Nguyễn Văn T4, B. T3 xóc cái được một lúc rồi chuyển cho B xóc cái "cầm cái", tính thắng thua với Q, C1, Nguyên Văn T7, T3, sau đó M đi vệ sinh vào xem rồi tham gia đánh bạc cùng.
Khoảng 14 giờ cùng ngày, Phạm Văn T, Vũ Ngọc T8, Đinh Văn H3 đến tham gia đánh bạc cùng. Trong lúc mọi người đánh bạc với nhau, T2 thu của T3, Nguyễn Văn T4, Phạm Văn T, C1, Q mỗi người 500.000 đồng "tiền hồ", những người khác do quen biết và chơi ít tiền nên T2 không thu tiền. T được 2.500.000 đồng Thanh cất vào túi quần, tiếp tục xem mọi người đánh bạc. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Duy B1, Nguyễn Thanh T5 đến tham gia đánh bạc cùng; một lúc sau Nguyễn Phi H đến tham gia đánh bạc cùng; sau đó do có việc riêng nên T3 về trước, H3, Nguyễn Văn T4, M, T8, Ba bị thua hết tiền nên ngồi xem. Đánh bạc đến 16 giờ 20 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an thành phố C kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ: Tại vị trí các đối tượng đánh bạc 01 chiếu cói màu vàng, kích thước (1,5x1,9)m, trên chiếu cói số tiền 5.200.000 đồng các đối tượng đánh bạc bỏ lại và 01 bát sứ màu trắng, cao 06 cm, đường kính 11,5 cm; 01 đĩa sứ màu trắng, đường kính 20,5 cm; 04 quân vị bằng giấy hình tròn, một mặt trắng, một mặt vàng, đường kính 02 cm; thu trên người T5 250.000 đồng; trong túi quần đằng trước bên trái C1 13.000.000 đồng, trên tay trái của C1 10.000.000 đồng, trong túi quần bên phải của Q 3.000.000 đồng; trong túi quần của T2 11.500.000 đồng, trên tay T2 01 túi vải màu xanh dạng túi áo mưa, bên trong có 10.000.000 đồng và 01 kéo kim loại, tay cầm bằng nhựa màu đen, dài 16cm. Nguyễn Phi H, Phạm Văn T bỏ chạy, để lại toàn bộ số tiền đánh bạc tại chiếu. Sau khi bỏ trốn các bị cáo sống lang thang, không có nơi ở cố định, không đăng ký tạm trú, không có hành vi vi phạm pháp luật gì. Đến ngày 03/5/2023 bị cáo H bị bắt theo quyết định truy nã, ngày 09/5/2023 Phạm Văn T ra đầu thú.
Quá trình điều tra làm rõ số tiền thu giữ trong túi quần của T2 11.500.000 đồng, trong đó 2.500.000 đồng Thanh thu tiền "hồ" của những người đến đánh bạc, 9.000.000 đồng còn lại là tiền cá nhân của T2 do anh Vũ Văn B2, sinh năm 1975, trú tại khu dân cư K, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương trả nợ vay T2 trước đó; 01 túi vải mưa bên trong có chứa 01 chiếc kéo bằng kim loại và số tiền 10.000.000 đồng là tiền của chị Nguyễn Thị T9 (vợ T2) đưa cho T2 để trả nợ cho anh Trịnh Hữu H4, sinh năm 1971, trú tại khu dân cư L, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương nhưng T2 chưa trả. Toàn bộ số tiền này T2 không sử dụng vào việc đánh bạc.
3
Các đối tượng khai nhận và Cơ quan điều tra làm rõ được số tiền sử dụng vào việc đánh bạc, cụ thể: Q sử dụng 3.500.000 đồng (khi bị bắt có 3.000.000 đồng), T3 sử dụng 4.000.000 đồng, trong đó có 2.000.000 đồng T5 trả nợ (khi bị bắt có 3.600.000 đồng), C1 sử dụng 9.000.000 đồng (khi bị bắt có 23.000.000 đồng), T5 sử dụng 250.000 đồng (thắng 2.000.000 đồng đã trả nợ cho T3, khi bị bắt có 250.000 đồng), B sử dụng 1.200.000 đồng (khi bị bắt có 1.000.000 đồng); H sử dụng 1.000.000 đồng, Phạm Văn T sử dụng 8.950.000 đồng; Nguyễn Văn T4 sử dụng 650.000 đồng, H3 sử dụng 1.000.000 đồng, Vũ Ngọc T8 sử dụng 10.000.000 đồng, M sử dụng 300.000 đồng, Ba sử dụng 700.000 đồng, khi bị bắt Nguyễn Văn T4, Hội, T8, M, Ba đang thua hết tiền; T2 thu lợi 2.500.000 đồng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 40.550.000 đồng.
* Việc thu giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng: Các công cụ, số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc đã được xử lý tại bản án số 54 ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2023/HS-ST ngày 19/9/2023, Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Phi H.
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Phi H phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 19 (mười chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H 19 (mười chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/5/2023.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/9/2023, bị cáo Nguyễn Phi H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 25/9/2023, bị cáo Phạm Văn T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
4
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Phạm Văn T bổ sung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; Bị cáo Nguyễn Phi H giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương sau khi tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, đánh giá hành vi phạm tội của các bị cáo, đánh giá vai trò của từng bị cáo trong vụ án cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T và chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phi H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 73/2023/HS-ST ngày 19/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, cụ thể như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T và Nguyễn Phi H, phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Phi H. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam ngày 03/5/2023.
Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn T và Nguyễn Phi H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ân hận và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn T bổ sung nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận.
Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phi H.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Phi H kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm đã quy kết và xác nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Đối chiếu lời khai nhận
5
tội của các bị cáo thấy phù hợp với lời khai nhận tội của chính các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với lời khai nhận tội của các bị cáo khác trong cùng vụ án cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 26/9/2022, tại khu vực đồi C thuộc khu dân cư K, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Đồng Bá T2 có hành vi rủ rê, chuẩn bị công cụ phương tiện, địa điểm và thu 2.500.000 đồng "hồ" để tổ chức cho Đinh Văn C1, Lê Minh Q, Nguyễn Thanh T5, Nguyễn Văn T4, Đinh Văn H3, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Duy B1, Vũ Ngọc T8, Nguyễn Văn M, Dương Văn B, Phạm Văn T, Nguyễn Phi H đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức xóc đĩa, thì bị lực lượng Công an thành phố C phát hiện bắt quả tang thu giữ: Tại chiếu bạc 5.200.000 đồng, quá trình đấu tranh tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C thu giữ số tiền các bị cáo giao nộp tham gia đánh bạc 35.350.000 đồng, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 40.550.000 đồng; 01 bát sứ; 01 đĩa sứ; 04 quân vị, 01 chiếc kéo, 01 chiếc chiếu cói màu vàng, 01 túi vải mưa màu xanh.
Trong vụ án đánh bạc các bị cáo đều là người thực hành, trong đó: Nguyễn Văn T4 là người cắt quân vị, tham gia từ đầu; Dương Văn B, Nguyễn Văn T3 là người tham gia từ đầu và xóc cái đánh bạc với mọi người nên giữ vai trò thứ nhất, sau đó lần lượt đến Đinh Văn C1, Lê Minh Q, Nguyễn Văn M, Vũ Ngọc T8, Phạm Văn T, Đinh Văn H3, Nguyễn Duy B1, Nguyễn Phi H, Nguyễn Thanh T5. Hành vi của các bị cáo T2, T, B, T3, C1, Q, M, T8, Hội, Ba, T5 đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HSST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Hành vi của các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Phi H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã xét xử các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, bị cáo Phạm Văn T và bị cáo Nguyễn Phi H giữ vai trò đồng phạm về “Đánh bạc”.
Quá trình xét xử vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, các tình tiết của vụ án cũng được cấp sơ thẩm cơ bản làm rõ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng theo quy định của pháp luật từ đó áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là cần thiết.
Bị cáo sau khi được bị cáo Đồng Bá T2 điện thoại rủ đến nhà bị cáo T2 đánh bạc nên bị cáo mới đến. Khi bị cáo đến các bị cáo khác đã đang đánh bạc, số tiền bị cáo sử dụng đánh bạc là 8.950.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm sau khi
6
xem xét các tình tiết giảm nhẹ, đánh giá vai trò của bị cáo trong vụ án đã xét xử bị cáo 19 tháng tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đã tự nguyện nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có bà ngoại là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân, huy chương đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm nên Hội đồng xét xử xem xét áp dung bổ sung cho bị cáo. Sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo cho bị cáo hưởng gán treo. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tham gia vụ án với vai trò thứ yếu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo giảm một phần hình phạt bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe và thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.
Bị cáo tham gia đánh bạc cuối cùng, với thời gian ngắn, số tiền đánh bạc là 1.000.000 đồng, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, tuy nhiên hình phạt cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội và đã tác động gia đình nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự nhân đạo của pháp luật và vẫn có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T và chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phi H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2023/HS-ST ngày 19/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, như sau:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T và bị cáo Nguyễn Phi H, phạm tội “Đánh bạc”.
Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Xác nhận bị cáo Phạm Văn T đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0001316 ngày 26/9/2023; Bị cáo Nguyễn Phi H đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0001317 ngày 29/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Văn T và Nguyễn Phi H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
7
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 11 (Mười một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Phi H. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam ngày 03/5/2023.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
8
Bản án số 157/2023/HS-PT ngày 07/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 157/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T và đồng phạm - Đánh bạc
