Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 157/2024/DS-PT

Ngày 05 - 7 - 2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên

Các thẩm phán:

Ông Trần Bá Kha

Ông Nguyễn Như Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Ông Trương Văn C - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024, về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đào Thanh H (6 Gồm), sinh năm 1954; địa chỉ: Số nhà F, tổ A khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đào Thanh H: Luật sư Trần Văn C1 - Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh K (có mặt).

- Bị đơn:

  1. Anh Võ Quốc P, sinh năm 1985 (vắng mặt).
  2. Chị Thị Kim A, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ A khu phố S, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

  1. Ông Danh N, sinh năm 1938 (chết ngày 09/4/2024).

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Danh N:

  1. 3.1. Bà Thị T, sinh năm 1942 (vợ ông N, có mặt).
  2. 3.2. Chị Thị N1, sinh năm 1972 (con ông N, có mặt).
  3. 3.3. Anh Danh N2, sinh năm 1977 (con ông N, có mặt).
  4. 3.4. Anh Danh Sa R, sinh năm 1979 (con ông N, có mặt).
  5. 3.5. Anh Danh B, sinh năm 1981 (con ông N, có mặt).
  6. 3.6. Chị Thị N3, sinh năm 1989 (con ông N, có mặt).
  1. Bà Thị T, sinh năm 1942 (vợ ông N, có mặt).

Cùng địa chỉ: tổ E khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang; địa chỉ trụ sở: Khu phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Minh T1 - Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Minh K – Chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H (vắng mặt)

  1. Ban Chỉ huy Quân sự huyện H, tỉnh Kiên Giang; địa chỉ trụ sở chính: Khu phố C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Hữu L – Chức vụ: Chỉ Huy trưởng của BCH Quân sự huyện H.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1973 – Chức vụ: Phó Chỉ huy trưởng, theo Giấy ủy quyền số 166/GUQ-BCH ngày 23/02/2023; địa chỉ trụ sở: Khu phố C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

  1. Bà Thị N1, sinh năm 1972 (có mặt).
  2. Ông Danh B, sinh năm 1981 (có mặt).
  3. Ông Danh N2, sinh năm 1977 (có mặt).
  4. Ông Danh Xa R1, sinh năm 1979 (có mặt).
  5. Bà Thị N3 sinh năm 1989 (có mặt).
  6. Bà Thị H1, sinh năm 1966 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

  1. Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang; địa chỉ: Khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Tiến D - Chức vụ: Chủ tịch UBND thị trấn S (xin vắng mặt).

  1. Bà Danh Thị Đ (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Quốc T2 (vắng mặt).
  3. Bà Đặng Thị P1 (vắng mặt).
  1. Ông Nguyễn Văn L1 (vắng mặt).
  2. Bà Đặng Ngọc Y (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang

  1. Bà Phan Thị Đ1 sinh năm 1957 (vợ ông H); địa chỉ: Số nhà F, tổ A khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

- Người kháng cáo: Ông Đào Thanh H - Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/5/2020, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn là ông Đào Thanh H trình bày:

Vào ngày 28/7/2000, ông có mua phần đất của Ban Chỉ huy Quân Sự huyện H (khu vực đất trên nằm dọc theo Quốc lộ H, cặp kênh sáng Rạch G - H, gần cầu T) diện tích là 560m² (chiều dài 80m, chiều rộng 07m), vị trí đất từ cột điện số 172 đến cầu T. Phần đất này thuộc khu phố T, thị trấn S, do phần đất cặp mé sông nên không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 24/11/2019, ông phát hiện vợ chồng ông Danh N, bà Thị T ngang nhiên đến phần đất của ông bao chiếm diện tích đất 70m² (chiều dài 10m, chiều rộng 07m) bằng cách cắm cừ tràm và múc đất đổ vào làm nền nhà. Vợ chồng ông Võ Quốc P, bà Thị Kim A ngang nhiên đến phần đất của ông bao chiếm tổng diện tích là 147m² (chiều dài 21m, chiều rộng 07m) bằng cách cắm cừ tràm và múc đất đổ vào làm nền nhà. Sự việc trên ông có làm tờ trình đến Ủy ban nhân dân thị trấn S nhờ giải quyết nhưng không thành.

Tại các đơn khởi kiện ngày 11/5/2020, ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Danh N, bà Thị T phải trả lại diện tích đất 245m² (ngang 35m x dài 07m) và buộc bà Thị Kim A, ông Võ Quốc P phải trả lại diện tích đất 175m² (ngang 25m x dài 07m).

Diện tích đất ông đang tranh chấp với ông Danh N và bà Thị T theo đo đạc thực tế tại Tờ trích đo địa chính số TĐ 151-2020 ngày 29/12/2020 có diện tích là 217m² (chiều dài 39,5m, chiều rộng 5,5m) và diện tích đất ông đang tranh chấp với ông Võ Quốc P, bà Thị Kim A theo đo đạc thực tế tại Tờ trích đo địa chính số TĐ 155-2020 ngày 30/12/2020 có diện tích là 119,7m² (chiều dài 21,8m, chiều rộng 5,5m).

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Võ Quốc P, bà Thị Kim A trả lại diện tích đất đã bao chiếm theo đo đạc thực tế là 119,7m² và yêu cầu vợ chồng ông Danh N, bà Thị T trả lại diện tích đất đã bao chiếm theo đo đạc thực tế là 217m².

Ông thống nhất sử dụng kết quả Tờ trích đo địa chính số TĐ 151-2020 ngày 29/12/2020, Tờ trích đo địa chính số TĐ 155-2020 ngày 30/12/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H làm căn cứ để giải quyết vụ án.

Giá đất theo Chứng thư định giá số 75/CT-KGGL ngày 12/10/2023 của

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên () bất động sản Đất Vàng K là thấp so với giá thị trường nên ông không đồng ý, ông xác định giá đất mua bán hiện nay tại địa phương khoảng 45.000.000 đồng/01 mét ngang lộ.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Danh N, bà Thị T trình bày:

Nguyên gốc diện tích đất tại mé sông R - H thuộc Quốc lộ H tại khu phố T, thị trấn S chiều ngang 35m, dài từ mé lộ xuống tới sông khoảng 07m do cha mẹ ông, bà là ông Danh K1 và bà Thị N4 để lại. Vợ chồng ông, bà đã chia phần diện tích đất này cho các con, nhưng do điều kiện khó khăn vợ chồng ông, bà và các con phải đi làm ăn xa, chưa ai cất nhà ở. Diện tích đất này là đất hợp pháp thuộc quyền sử dụng của gia đình ông, bà từ trước đến nay, người dân địa phương nơi đây đều rõ.

Nay ông H khởi kiện ông, bà, cho rằng đất này là của ông mua lại từ Huyện đội Hòn Đất, nhưng việc mua bán này không có người nào chứng kiến, cũng không ai thấy ông H sử dụng đất từ trước cho đến nay nên ông bà không đồng ý trả đất theo yêu cầu khởi kiện của ông H.

Tại đơn phản tố ngày 13/7/2020 ông, bà làm đơn phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận diện tích đất 245m² (ngang 35m, dài 07m) thuộc quyền sử dụng của ông, bà. Tại đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 17/8/2020, ông bà yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận diện tích đất 474m² (chiều rộng 39,5m, chiều dài 07m) thuộc quyền sử dụng của ông, bà.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông bà yêu cầu Tòa án công nhận diện tích theo đo đạc thực tế là 217m² (chiều rộng 39,5m, chiều dài 5,5m) thuộc quyền sử dụng của ông, bà.

Ông, bà thống nhất sử dụng Tờ trích đo địa chính số TĐ 155-2020 ngày 30/12/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H và thống nhất giá trị quyền sử dụng đất là 45.000.000 đồng/01 mét ngang lộ làm căn cứ giải quyết vụ án.

* Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ban chỉ huy Quân sự huyện H trình bày:

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ (BCHQS) tỉnh Kiên Giang về việc xây dựng kế hoạch phòng thủ khu vực của huyện H; để phục vụ cho chiến đấu bảo đảm nhu cầu phải có bến bãi, nơi tiếp nhận thực lực lượng, phương tiện kỹ thuật cho nhiệm vụ kinh tế - Quốc phòng. Qua khảo sát thực tế khu vực ấp T, xã S (nay là khu phố T, thị trấn S) có khoảng đất trống ven quốc lộ H và kinh sáng Rạch G - H, nguồn gốc đất do Nhà nước quản lý; khu vực này ven bờ sông là nơi nhân dân sử dụng làm nơi cho trâu lên xuống sạt lở đất, nên bờ sông sạt mé lộ không có đất.

Ngày 14/9/1993, BCHQS huyện H có Tờ trình xin khu vực để làm doanh trại phòng thủ (có sơ đồ xin khu vực ven kinh xáng để bồi đắp làm doanh trại tại ấp T, xã S). Vị trí tại trụ điện trung thế số 172 đến đầu Cống bà Út N5 (nay là cầu, kinh Tà Hem) kích thước: chiều dài theo lộ 120m, chiều ngang từ mé lộ ra sông

8m, diện tích 960m².

BCHQS huyện H (Huyện Đ) phối hợp cùng UBND xã S, Ban lãnh đạo ấp T tổ chức họp dân xin ý kiến theo Tờ trình xin giao đất của BCHQS huyện; kết quả nhân dân đồng ý giao không bồi hoàn, khu vực này không bị tranh chấp; nhân dân đề nghị sau khi bồi đắp xong chừa một con đường cho dân đi xuống sông từ 3 mét đến 4 mét (theo biên bản họp dân ngày 21/9/1993).

Tờ trình (kèm theo sơ đồ) được UBND xã S, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện và Chủ tịch UBND huyện H chấp thuận ngày 01/10/1993. Sau khi được chấp thuận từ tháng 10/1993, Huyện đội bố trí lực lượng, đầu tư mua 1.500 cây cừ tràm cặm bờ kè và thuê xáng cạp bồi đắp trên 2.500m³ đất thành bãi đất ven sông toàn bộ diện tích được xin để làm nơi tập trung lực lượng và nơi làm doanh trại phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, tổng số tiền đầu tư trên 40.000.000 đồng. Bãi đất trên sau khi bồi đắp hoàn thành, Huyện đội quản lý và đưa vào sử dụng đến năm 2000, theo kế hoạch không còn nhu cầu sử dụng khu vực phòng thủ trên địa bàn xã S, điều chỉnh kế hoạch phòng thủ cho xã khác nên tập thể BCH Huyện đội họp thống nhất chuyển nhượng phần bãi đất doanh trại có diện tích 560m², tính từ trụ điện 172 đến cống bà Út N5 chiều dài 80m, chiều rộng 7m cho ông Đào Thanh H với số tiền là 45.000.000 đồng để thu lại số tiền đầu tư xáng cạp, cừ tràm và tiền nhân công (có Biên bản sang nhượng nhân công khu vực ven kinh sáng của Huyện đội tại S ngày 28/7/2000).

Bãi đất doanh trại được chấp thuận chủ trương và bồi đắp vị trí từ trụ điện trung thế số 172 đến đầu Cống bà Út N5 chiều dài theo lộ 120m, chiều ngang từ mé lộ ra sông 8m, diện tích 960m² nhưng khi sang nhượng nhân công, đổi đất cho ông H tính từ trụ điện 172 đến cống bà Út N6 chiều dài 80m, chiều rộng 7m. (kích thước giảm so với Tờ trình chấp thuận chiều dài 40m, chiều rộng 1m). Trong phần chiều dài 40m Huyện đội chừa lại không chuyển nhượng là khoảng cách của mố cống bà Út N5 và một phần đất dành cho nhân dân sử dụng khi lên xuống sông.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của BCHQS huyện H xác định Biên bản sang nhượng nhân công khu vực ven kinh xáng của Huyện đội tại S ngày 28/7/2000 là chuyển nhượng nhân công, tiền đầu tư cừ tràm đồng thời giao phần đất này cho ông H quản lý, sử dụng. Việc chuyển nhượng bãi đất giữa BCHQS huyện H và ông H là hợp pháp. BCHQS huyện Hòn Đất không tranh chấp với ông H về việc chuyển nhượng này, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người đại diện hợp pháp của BCHQS huyện H thống nhất sử dụng các Tờ trích đo địa chính số TĐ 155-2020 ngày 30/12/2020 và số TĐ 151-2020 ngày 29/12/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H và thống nhất giá trị quyền sử dụng đất là 45.000.000 đồng/01 mét ngang lộ làm căn cứ giải quyết vụ án.

Tại Công văn số 900/UBND-TNMT ngày 03/10/2023 Ủy ban nhân dân huyện H trình bày:

Khu đất có chiều dài cặp Quốc lộ H là 120m, chiều ngang từ mé lộ ra kênh

R - H là 07m, diện tích 840m² tại ấp T, xã S (nay là khu phố T, thị trấn S), huyện H, tỉnh Kiên Giang, nguồn gốc đất do Nhà nước quản lý. Ngày 14/9/1993 BCHQS huyện H có Tờ trình xin khu vực đất trên để làm Doanh trại phòng thủ và kết hợp kinh tế quốc phòng và được UBND xã S, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện và UBND huyện H chấp thuận ngày 01/10/1993. BCHQS huyện H đã đầu tư làm bờ kè và bồi đắp phần đất này để quản lý và sử dụng đến năm 2000, theo kế hoạch không còn nhu cầu sử dụng khu vực phòng thủ trên địa bàn xã S, điều chỉnh kế hoạch phòng thủ cho xã khác nên tập thể BCHQS huyện H họp thống nhất sang nhượng nhân công khu vực đất ven kinh sáng của Huyện đội tại S có diện tích 560m² với chiều dài 80m, chiều rộng 7m, vị trí tại cột điện số 172 đến cầu T bằng 80m cho ông Đào Thanh H và có lập Biên bản sang nhượng nhân công ngày 28/7/2000.

Đối với khu vực đất trên Ban chỉ huy Quân sự huyện H xin chủ trương sử dụng vào mục đích làm doanh trại khu vực phòng thủ, quy định tại khoản 1 Điều 65 của Luật Đất đai 1993 được sử dụng vào mục đích đất quốc phòng, an ninh; khoản 3 Điều 6 Nghị định số 09/CP ngày 12 tháng 02 năm 1996 của Chính phủ về chế độ quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh quy định Đơn vị vũ trang nhân dân được Nhà nước giao đất quốc phòng, an ninh không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn liên doanh và phải tuân theo các quy định của pháp luật về đất đai và điểm c khoản 2 Phần thứ ba, Thông tư liên tịch số 2708/TT-LT ngày 14 tháng 10 năm 1997 của Bộ N8 - Bộ Q - Tổng Cục Địa chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 09/CP ngày 12-2-1996 của Chính phủ về chế độ quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh quy định các đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng đất quốc phòng, an ninh có trách nhiệm nếu không còn nhu cầu sử dụng đất, phải báo cáo Bộ Q, Bộ N8 để điều chỉnh cho đơn vị khác theo quy hoạch hoặc trả lại cho Nhà nước. Không được tự tiện chuyển đất quốc phòng, an ninh sang sử dụng vào mục đích khác. Như vậy, việc việc sang nhượng nhân công ngày 28/7/2000 giữa BCHQS huyện H với ông H tại khu vực đất trên là chưa phù hợp như đã nêu trên.

Phần đất đang tranh chấp theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 151- 2020 ngày 29/12/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H có diện tích 217m² và Tờ trích đo địa chính số TĐ 155-2020 ngày 30/12/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H có diện tích 119,7m² thể hiện đất nằm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ và phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi tại khu phố T, thị trấn S, huyện H. Căn cứ khoản 4 Điều 42 Văn bản hợp nhất số 11/VBHN-BGTVT ngày 21 tháng 04 năm 2022 của Bộ G hợp nhất Nghị định Quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, Quy định trách nhiệm của UBND cấp xã quản lý việc sử dụng đất trong và ngoài hành lang an toàn đường bộ theo quy định của pháp luật, hiện tại thửa đất trên người dân đang sử dụng. Trường hợp Nhà nước giao đất này cho hộ gia đình, cá nhân nào sử dụng với điều kiện hộ gia đình, cá nhân có đơn xin giao đất (đơn phải thể hiện được nhu cầu sử dụng đất), Kế hoạch sử dụng đất hàng năm cho phép giao đất tại khu vực hộ gia đình, cá nhân làm đơn theo các quy định căn cứ để giao đất tại Điều 52 của Luật Đất đai 2013.

Đề nghị Tòa án căn cứ vào hồ sơ vụ án để giải quyết tranh chấp của các bên

theo quy định pháp luật.

Tại Công văn số 88/UBND-ĐC ngày 15/12/2023, Ủy ban nhân dân thị trấn S trình bày:

UBND thị trấn S thống nhất nội dung Công văn số 900/UBND-TNMT ngày 03/10/2023 của UBND huyện H về việc phúc đáp Công văn số 59/CV.(HSVA) ngày 08/06/2023 của Toà án nhân dân huyện Hòn Đất. Toàn bộ phần diện tích tranh chấp thuộc đất hành lang an toàn giao thông đường bộ và phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi tại khu phố T, thị trấn S. UBND thị trấn S đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đã xét xử, quyết định:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đào Thanh H về việc buộc ông Võ Quốc P, bà Thị Kim A trả lại diện tích đất là 119,7m² (chiều rộng 21,8m, chiều dài 5,5m) theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 155-2020 ngày 30/12/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H.

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đào Thanh H về việc buộc ông Danh N, bà Thị T trả lại diện tích đất 217m² (chiều rộng 39,5m, chiều dài 5,5m) theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 151-2020 ngày 29/12/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H.

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Danh N, bà Thị T về việc công nhận quyền sử dụng đối diện tích đất 217m² (ngang 39,5m x dài 5,5m) theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 151- 2020 ngày 29/12/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H.

Tạm giao cho ông Danh N, bà Thị T tiếp tục sử dụng diện tích đất 217m² (ngang 39,5m x dài 5,5m) theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 151- 2020 ngày 29/12/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H. Ông N, bà T phải chấp hành quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi Nhà nước có kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất theo quy định pháp luật đất đai.

Ngoài ra bản án còn quyết định về chi phí tố tụng về án phí và báo quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm.

Ngày 29 tháng 01 năm 2024 nguyên đơn ông Đào Thanh H có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm:

  • Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
  • Trường hợp có thể khắc phục được thì sửa Bản án theo hướng chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc ông Võ Quốc P và bà Thị Kim A trả lại diện tích

đất đã bao chiếm và tháo dỡ công trình xây dựng trên đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Phía nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Trần Văn C1 trình bày tranh luận và yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Với lý do là bản án đã vi phạm về thủ tục tố tụng và vi phạm về nội dung vụ án.

Ông H, bà Đ1 thống nhất theo ý kiến của Luật sư Trần Văn C1.

- Phía bị đơn yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Đào Thanh H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bị đơn Đào Thanh H về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét về nguồn gốc sử dụng đất:

Tại Công văn số 900/UBND-TNMT ngày 03/10/2023 Ủy ban nhân dân huyện H xác định: Khu đất có chiều dài cặp Quốc lộ H là 120m, chiều ngang từ mé lộ ra kênh R - H là 07m, diện tích 840m² tại khu phố T, thị trấn S có nguồn gốc đất do Nhà nước quản lý. Ngày 14/9/1993, BCHQS huyện H có Tờ trình xin khu vực đất trên để làm Doanh trại phòng thủ và kết hợp kinh tế quốc phòng. Ngày 01/10/1993 được UBND xã S, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện và UBND huyện H chấp thuận. BCHQS huyện H đã đầu tư làm bờ kè và bồi đắp phần đất này để quản lý và sử dụng đến năm 2000. Do điều chỉnh kế hoạch phòng thủ cho xã khác nên tập thể BCHQS huyện H họp thống nhất sang nhượng nhân công khu vực đất có diện tích 560m² (chiều dài 80m, chiều rộng 07m) vị trí tại cột điện số

172 đến cầu T bằng 80m cho ông Đào Thanh H và có lập Biên bản sang nhượng nhân công ngày 28/7/2000.

Phần đất đang tranh chấp theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 151- 2020 ngày 29/12/2020 có diện tích 217m² và Tờ trích đo địa chính số TĐ 155-2020 ngày 30/12/2020 có diện tích 119,7m² thể hiện đất nằm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ và phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi tại khu phố T, thị trấn S, huyện H do UBND cấp xã quản lý việc sử dụng đất. Như vậy diện tích đất tranh chấp hiện nay Nhà nước chưa có chủ trương giao cấp đất cho ai.

[2.2] Xét Biên bản sang nhượng nhân công khu vực ven kinh sáng của Huyện đội tại S ngày 28/7/2000 (Biên bản sang nhượng nhân công ngày 28/7/2000):

Về hình thức: Biên bản sang nhượng nhân công ngày 28/7/2000 giữa BCHQS huyện Hòn Đ2 và ông Đào Thanh H chỉ có xác nhận của hai bên, chưa được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chưa làm thủ tục và đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền nên không đảm bảo về hình thức của hợp đồng theo quy định Điều 65 của Luật Đất đai năm 1993, Điều 707 Bộ luật Dân sự năm 1995.

Về nội dung: BCHQS được UBND huyện H chấp thuận giao khu đất có diện tích 840m² (ngang 120m x dài 07m) tại ấp T, xã S (nay là khu phố T, thị trấn S) để làm Doanh trại phòng thủ và kết hợp kinh tế quốc phòng vào ngày 01/10/1993. BCHQS huyện H đã đầu tư làm bờ kè và bồi đắp phần đất này để quản lý và sử dụng đến năm 2000. Do điều chỉnh kế hoạch phòng thủ cho xã khác nên tập thể BCHQS huyện H họp thống nhất sang nhượng nhân công khu vực đất có diện tích 560m² (chiều dài 80m, chiều rộng 07m) vị trí tại cột điện số 172 đến cầu T bằng 80m cho ông H. Việc sang nhượng có lập Biên bản sang nhượng nhân công ngày 28/7/2000.

Xét thấy, khu đất nêu trên BCHQS huyện Hòn Đất xin chủ trương sử dụng vào mục đích làm doanh trại khu vực phòng thủ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 65 của Luật Đất đai 1993; khoản 3 Điều 6 Nghị định số 09-CP ngày 12 tháng 02 năm 1996 của Chính phủ về chế độ quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh quy định đơn vị vũ trang nhân dân được Nhà nước giao đất quốc phòng, an ninh, không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn liên doanh và phải tuân theo các quy định của pháp luật về đất đai. Tại điểm c khoản 2 Phần thứ ba Thông tư liên tịch số 2708/TT-LT ngày 14 tháng 10 năm 1997 của Bộ N8 - Bộ Q - T3 hướng dẫn thi hành Nghị định số 09-CP ngày 12/02/1996 của Chính phủ quy định các đơn vị vũ trang nhân dân nếu không còn nhu cầu sử dụng đất, phải báo cáo Bộ Q, Bộ N8 để điều chỉnh cho đơn vị khác theo quy hoạch hoặc trả lại cho Nhà nước; không được tự tiện chuyển đất quốc phòng, an ninh sang sử dụng vào mục đích khác. Như vậy, việc sang nhượng nhân công ngày 28/7/2000 giữa BCHQS huyện H với ông H tại khu vực đất trên là chưa phù hợp với quy định của pháp luật.

Mặt khác, phần diện tích đất các bên thỏa thuận chuyển nhượng đang tranh chấp theo các Tờ trích số TĐ 151- 2020 và Tờ trích đo địa chính số TĐ 155-2020

nằm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ và phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thời điểm ngày 28/7/2000, đất sử dụng không có giấy tờ hợp pháp nhưng BCHQS huyện Hòn Đất thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H là vi phạm quy định tại Điều 65, khoản 1 Điều 79 của Luật Đất đai năm 1993. Do đó, căn cứ quy định tại các Điều 131, 133, 136, 137 và 139 của BLDS năm 1995 thì Biên bản sang nhượng nhân công ngày 28/7/2000 giữa BCHQS huyện H và ông Đào Thanh H vô hiệu.

Do không có căn cứ để xác định ông H có quyền sử dụng hợp pháp đối với các phần diện tích đất đang tranh chấp nên yêu cầu khởi kiện của ông H buộc ông Võ Quốc P, bà Thị Kim A trả lại diện tích đất đã bao chiếm theo đo đạc thực tế là 119,7m² (chiều dài 21,8m, chiều rộng 5,5m) và yêu cầu vợ chồng ông Danh N, bà Thị T trả lại diện tích đất đã bao chiếm theo đo đạc thực tế là 217m² (chiều dài 39,5m, chiều rộng 5,5m) là không phù hợp với quy định tại khoản 5 và khoản 7 Điều 166, khoản 1 Điều 174 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 169 và Điều 185 của BLDS năm 2015 nên cấp sơ thẩm không chấp nhận là có căn cứ.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H, BCHQS huyện H xác định không tranh chấp đối với Biên bản sang nhượng nhân công ngày 28/7/2000 nên cấp sơ thẩm không giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại Điều 146 của BLDS năm 1995. Trường hợp, ông H và BCHQS huyện H có phát sinh tranh chấp thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác là phù hợp.

[2.3] Xét yêu cầu phản tố của ông Danh N, bà Thị T:

Tại Biên bản về việc giao đất sử dụng Quốc phòng ngày 21/9/1993 có chữ ký của ông Danh N xác định có giao phần đất có nguồn gốc do gia đình khai phá cho BCHQS huyện H sử dụng vào mục đích quốc phòng. Tại phiên tòa sơ thẩm, cả ông H và ông N, bà T đều xác định là người trực tiếp sử dụng phần đất đang tranh chấp. Tuy nhiên, tại các biên bản lấy lời khai của một số người dân ở địa phương là các ông, bà Danh H2, Danh Ú, Danh N7, Danh Sa V đều xác định phần đất tranh chấp giữa ông H và ông N, bà T có nguồn gốc do gia đình bà T để lại và ông N, bà T là người trực tiếp sử dụng từ trước năm 1993 cho đến nay.

Xét thấy, tại Công văn số 900/UBND-TNMT ngày 03/10/2023 Ủy ban nhân dân huyện H xác định phần đất đang tranh chấp giữa ông H và ông N, bà T theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 151- 2020 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H lập ngày 29/12/2020 có diện tích 217m² thể hiện đất nằm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ và phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi tại khu phố T, thị trấn S, huyện H do UBND cấp xã quản lý việc sử dụng đất. Trường hợp Nhà nước giao đất này cho hộ gia đình, cá nhân nào sử dụng với điều kiện hộ gia đình, cá nhân có đơn xin giao đất (đơn phải thể hiện được nhu cầu sử dụng đất), Kế hoạch sử dụng đất hàng năm cho phép giao đất tại khu vực hộ gia đình, cá nhân làm đơn theo các quy định căn cứ để giao đất tại Điều 52 của Luật Đất đai 2013. Ông N, bà T chưa có đơn đăng ký nhu cầu sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất hàng năm cũng chưa có chủ trương giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng

đối với phần đất nằm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ và phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi. Do đó, ông N, bà T yêu cầu công nhận quyền sử dụng diện tích đất 217m² (chiều dài 39,5m x chiều rộng 5,5m) là không phù hợp với quy định tại Điều 100, Điều 101 của Luật Đất đai năm 2013 nên cấp sơ thẩm không chấp nhận là có căn cứ.

Tuy nhiên, do ông N, bà T là người đang sử dụng đất và cấp sơ thẩm để cho ông N, bà T tiếp tục sử dụng diện tích đất tranh chấp theo đo đạc thực tế diện tích 217m² theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 151-2020 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H lập ngày 29/12/2020 là phù hợp. Nay ông N đã chết thì người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông N, bà Thị T phải chấp hành quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi Nhà nước có kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất theo quy định pháp luật về đất đai.

Ông Võ Quốc P, bà Thị Kim A, ông Nguyễn Quốc T2, bà Đặng Thị P1, ông Nguyễn Văn L1 không tranh chấp diện tích đất 119,7m² theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 155-2020 lập ngày 30/12/2020 và công trình kiến trúc, công trình xây dựng trên đất nên cấp sơ thẩm không xem xét là có cơ sở. Trường hợp các ông, bà có tranh chấp thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.

[3] Xét nội dung đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Đào Thanh H. Tại phiên tòa phúc thẩm ông H không có cung cấp thêm chứng cứ gì mới để chứng minh là việc kháng cáo của ông là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo của ông H như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên.

Từ những nhận định nêu trên nên trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Đào Thanh H; không chấp nhận lời bào chữa của Luật sư Trần Văn C1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

[4] Chi phí tố tụng: Yêu cầu của ông H không được chấp nhận nên ông Đào Thanh H phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng số tiền là 9.317.000 đồng (chín triệu ba trăm mười bảy nghìn đồng) bao gồm chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.117.000 đồng (một triệu một trăm mười bảy nghìn đồng) và chí phí thẩm định giá tài sản là 8.200.000 đồng (tám triệu hai trăm nghìn đồng). Ông H được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp là 9.317.000 đồng (chín triệu ba trăm mười bảy nghìn đồng).

[5] Vế án phí

[5.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Các ông, bà Đào Thanh H, Danh N, Thị T là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên các ông, bà được miễn án phí theo quy định.

[5.2] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Kháng cáo của ông Đào Thanh H không được chấp nhận, nên ông H phải phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng. Tuy nhiên, ông H là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên ông H được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Đào Thanh H.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Áp dụng Điều 131, Điều 133, Điều 136, Điều 137, Điều 139 và Điều 707 của Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 169 và Điều 185, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 65, khoản 1 Điều 79 của Luật Đất đai năm 1993; Điều 52, Điều 100, Điều 101, khoản 5 và khoản 7 Điều 166, khoản 1 Điều 174 của Luật Đất đai 2013; Khoản 3 Điều 6 Nghị định số 09/CP ngày 12 tháng 02 năm 1996 của Chính phủ về chế độ quản lý, sử dụng đất Quốc phòng, An ninh; Điểm c khoản 2 Phần thứ ba Thông tư liên tịch số 2708/TT-LT ngày 14 tháng 10 năm 1997 của Bộ N8 - Bộ Q - Tổng Cục Địa chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 09/CP ngày 12 tháng 02 năm 1996 của Chính phủ về chế độ quản lý, sử dụng đất Quốc phòng, An ninh; Điều 12, Điều 14, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đào Thanh H về việc buộc ông Võ Quốc P, bà Thị Kim A trả lại diện tích đất 119,7m² (chiều rộng 21,8m, chiều dài 5,5m) theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 155-2020 ngày 30/12/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đào Thanh H về việc buộc ông Danh N, bà Thị T trả lại diện tích đất 217m² (chiều rộng 39,5m, chiều dài 5,5m) theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 151- 2020 ngày 29/12/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tỉnh kiên Giang.

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Danh N, bà Thị T về việc công nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất 217m² (ngang 39,5m x dài 5,5m) theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 151- 2020 ngày 29/12/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Danh N và bà Thị T được tiếp tục sử dụng diện tích đất 217m² (ngang 39,5m x dài 5,5m) theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 151- 2020 ngày 29/12/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tỉnh Kiên Giang. Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Danh N và bà T phải chấp hành quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm

quyền khi Nhà nước có kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất theo quy định pháp luật về đất đai.

  1. Về chi phí tố tụng:

Ông Đào Thanh H phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 9.317.000 đồng (chín triệu ba trăm mười bảy nghìn đồng) bao gồm chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ (phí trích đo địa chình) số tiền là 1.117.000 đồng (một triệu một trăm mười bảy nghìn đồng) theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0000588 ngày 30/12/2020 của C nhành Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tỉnh Kiên Giang và chí phí thẩm định giá tài sản số tiền là 8.200.000 đồng (tám triệu hai trăm nghìn đồng) theo hóa đơn bán hàng số 00000057 ngày 20/10/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên B1. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng ông Đào Thanh H đã nộp số tiền là 9.317.000 đồng (chín triệu ba trăm mười bảy nghìn đồng) xem như ông H đã nộp xong.

  1. Vế án phí

4.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Đào Thanh H, ông Danh N, bà Thị T là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí, nên các ông, bà được miễn án phí theo quy định.

4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Đào Thanh H là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên ông H được miễn án phí theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Hòn Đất;
  • - THA dân sự huyện Hòn Đất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/DS-PT ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 157/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông H tranh chấp quyền sử dụng đất với ông P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger