|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 157/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05/7/2024
V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Lê Văn Hoàng;
- 2/ Ông Nguyễn Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/3/2024, về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/5/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 110/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19/6/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0868.951.xxx
* Bị đơn: Chị Mai Thị Thảo Q, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Tôi với chị Mai Thị Thảo Q do tự tìm hiểu nên tiến tới chung sống với nhau từ năm 2018, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) xã V, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 29/9/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến ngày 29/3/2023 al, vợ tôi viết thư tay để lại và bỏ đi đâu không biết. Trong đó vợ nêu lý do là từ khi lấy tôi vợ tôi không có tình cảm với tôi và tôi hay say sỉn nên vợ không muốn sống chung với tôi nữa. Nhưng thực sự tôi nhậu rất ít, nguyên nhân chính là vợ tôi không còn tình cảm với tôi. Tôi có hỏi gia đình cha mẹ vợ nhưng họ nói không biết con gái đi đâu, sau đó tôi tìm kiếm khắp nơi ngay cả nhờ đăng lên mạng cũng tìm không được, vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay.
Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Mai Thị Thảo Q. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thanh S, sinh ngày 01/8/2017 (hiện đang sống với cha). Sau khi ly hôn, tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị Q cấp dưỡng. Về quan hệ tài sản: Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn chị Mai Thị Thảo Q: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Mai Thị Thảo Q nhưng chị Q đã vắng mặt không lý do nên không có lời khai của chị Q.
Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của anh T, chị Q tại biên bản lấy lời khai người làm chứng chị Nguyễn Thị Tuyết T1 vào ngày 25/3/2024 thể hiện:: “………thấy Q, T rất hòa thuận, không cự cãi gì, tuy nhiên vào ngày 29/3/2023 al, Q bỏ nhà đi không có lý do chỉ để lại lá thư ghi là vì không có tình cảm với anh T nên Q không muốn sống chung nữa, con có hỏi tới thì nói là mẹ chết rồi. Từ khi bỏ đi Q không liên hệ gì, cũng không biết ở đâu, T có đăng tìm kiếm nhiều nơi nhưng không được. Chị T cũng không về thăm con. Chỉ có 01 con chung tên Nguyễn Thanh S, sinh năm 2017, ở nhà tên B, hiện tại đang ở với T...”.
Tại phiên tòa: Anh Nguyễn Văn T vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chị Mai Thị Thảo Q vắng mặt không có lý do.
Nguyện vọng của con chung: Tại biên bản ghi nhận ý kiến của người chưa thành niên ngày 25/3/2024, cháu Nguyễn Thanh S, sinh ngày 01/8/2017 có nguyện vọng được tiếp tục sống với cha.
Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đã xác minh về tình trạng hôn nhân, có đủ cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Anh Tú được ly hôn với chị Q. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thanh S, sinh ngày 01/8/2017 (hiện đang sống với cha) cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Về án phí: Anh Tú yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con; Bị đơn chị Mai Thị Thảo Q cư trú tại huyện T, tỉnh An Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa, chị Q vẫn vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự; Anh Nguyễn Văn T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T chung sống với chị Mai Thị Thảo Q có đăng ký kết hôn tại UBND xã xã V, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 29/9/2016. Do vậy, căn cứ vào Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của anh T, chị Q phù hợp với lời khai của anh T về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, cụ thể: Thời gian đầu vợ chồng anh T và chị Q chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do chị Q không còn tình cảm với anh T, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc (điều này được thể hiện trong lá thư tay chị Q để lại trước khi bỏ đi khỏi nhà). Anh Tú đã cố gắng liên hệ với chị T để vợ chồng hàn gắn nhưng vẫn không đạt kết quả, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ 29/3/2023 al cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm nhau.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án chị Q không đến Tòa để tham dự các phiên hòa giải cũng như xét xử, không gửi tờ tự khai thể hiện ý kiến của mình là mặc nhiên thừa nhận có sự mâu thuẫn giữa vợ chồng và không có ý muốn hàn gắn. Do đó anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn là có cơ sở.
Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị Q đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị Q.
[2.2] Về con chung: Qua chứng cứ anh Nguyễn Văn T cung cấp cũng như kết quả xác minh tình trạng hôn nhân thì anh Nguyễn Văn T và chị Mai Thị Thảo Q có 01 con chung tên Nguyễn Thanh S, sinh ngày 01/8/2017 hiện đang sống với cha, tại biên bản ghi nhận ý kiến của người chưa thành niên cháu Nguyễn Thanh S có nguyện vọng được tiếp tục sống với cha. Nhận thấy anh T đủ điều kiện trực tiếp nuôi con chung và cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu S. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Q không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của anh T về con chung. Do vậy, HĐXX áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, giao con chung tên Nguyễn Thanh S, sinh ngày 01/8/2017 cho anh Nguyễn Văn T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu S thành niên (đủ 18 tuổi), tự lao động được là phù hợp và đảm bảo được các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, việc học tập, môi trường sống của cháu; Anh T phải tạo điều kiện cho chị Q được quyền đến thăm nom, chăm sóc các con chung, không ai được cản trở; Khi cần thiết chị Q có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Tú trình bày không có nên HĐXX không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Tú trình bày không có nên HĐXX không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Tú là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[4] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.
[5] Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Mai Thị Thảo Q.
2. Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Văn T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thanh S, sinh ngày 01/8/2017; Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con chung nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Mai Thị Thảo Q do anh Nguyễn Văn T không yêu cầu. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản chung và nợ chung:
- - Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
- - Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh Nguyễn Văn T và chị Mai Thị Thảo Q phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
5. Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0013698 ngày 25/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, anh T đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm. Chị Mai Thị Thảo Q không phải chịu án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Cẩm Xuyên |
Bản án số 157/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 157/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
