|
TOÀ ÁN NHÂN DÂNCỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 157/2024/DS - ST
Ngày: 03 – 7 – 2024
“V/v tranh chấp đòi lại tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Diễm Trang.
Các Hội thẩm nhân dân
- Bà Nguyễn Minh Phương
- Bà Nguyễn Thị Mai Hồng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 157/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 376/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 167/2024/QÐST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Bảo T, sinh năm 1992.
Địa chỉ: B đường số B, Khu T, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Đại diện uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1995 (GUQ ngày 11/11/2023) - (có mặt).
Địa chỉ: B đường số B, Khu T, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Công ty TNHH MTV C1.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quí Phi Hồng L (vắng mặt).
Địa chỉ: 69/4/16 khu vực A, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Quí Phi Hồng L, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Địa chỉ: 69/4/16 khu vực A, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Người làm chứng: Ông Dương Văn T1 (có mặt).
Địa chỉ: Nhà số L đường D KDC P, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết nguyên đơn trình bày:
Nguyên đơn bà Phạm Bảo T và Công ty C1 do ông Phạm Quí Phi Hồng L (ông L) là Giám đốc có mối quan hệ quen biết. Ngày 15/03/2018, ông L có liên hệ bà T vay số tiền: 365.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi lăm triệu đồng); Mục đích vay tiền: Vay kinh doanh; Thời hạn vay: 06 ngày, kể từ ngày 15/3/2018 đến hết ngày 20/3/2018. Phương thức giao, nhận tiền: Bên vay nhận một lần bằng tiền mặt. Mức lãi suất: 6.000.000 đồng/ngày. Trong hợp đồng cho vay ngày 15/3/2018, ông L nhân danh Công ty C1 ký hợp đồng vay tiền, cam kết sẽ thanh toán cả gốc và lãi theo đúng nội dung đã thỏa thuận, nếu không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật. Cũng trong hợp đồng cho vay nêu rõ, trường hợp Công ty C1 giải thể hoặc phá sản mà Công ty C1 không đủ tiền chỉ trả cho bà T thì cá nhân ông L chịu trách nhiệm chỉ trà số tiền trên cho bà T. Nếu cá nhân ông L không đủ tiền chỉ trà thì bà T có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tải sản/tài sản đồng sở hữu của ông L để thu hồi số tiền gốc và lãi theo quy định pháp luật cho bà T. Tuy nhiên, khi đến hạn thanh lý hợp đồng thì Công ty C1 đã không thực hiện như đúng cam kết. Bà Phạm Bảo T đã nhiều lần liên hệ, gọi điện, nhắn tin, đến Công ty C1 đôn đốc nhưng lúc này ông L cố tình không hợp tác, tránh né và cắt đứt mọi liên lạc, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà T. Tiếp đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, bà T đã đến Cơ quan công an quận C, TP. trình báo sự việc. Qua đó, vào ngày 06/07/2018, Công an đã mời bà T và ông L lên làm việc, Tại Cơ quan Công an, đại diện Công ty C1 là ông L đã thừa nhận có mượn tiền của bà T và hứa sẽ trả đầy đủ và bản thân ông L sẽ chịu trách nhiệm đối với khoản vay. Bà T và ông L lập biên bản thoả thuận cam kết trả nợ trước sự chứng kiến của các cán bộ Công an. Cụ thể, nội dung thỏa thuận việc trả nợ như sau: "Vào ngày 15/03/2018 tôi có mượn bà T với số tiền là: 365.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi lăm triệu đồng) để vay vốn kinh doanh. Nay do thua lỗ nên không có khả năng chi trả một lần. Nay tôi xin cam kết trả số tiền trên cho cô T như sau: 1. Đến cuối tháng 09/2018 - Trả 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng); 2. Hàng thảng từ 10/2018 - Trả 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng); 3. Đến tháng 04/2019 - Trả từ 50.000.000₫ - 100.000.000₫; 4. Nếu công việc thuận lợi thì đến cuối năm 2019 sẽ thanh toán hết. Còn không thuận lợi thì sẽ trả dứt điểm trong vòng 3 năm kể từ tháng 07/2018" (Có văn bản kèm theo hồ sơ). Tuy nhiên, sau đó ông L hoàn toàn không thực hiện đúng cam kết trả nợ như ông đã hứa, kể từ ngày lập Biên bản thỏa thuận đến nay, bà T chưa nhận được bất kì một khoản tiền nào từ ông L như đã hứa trong văn bản, cũng như không có hứa hẹn gì về việc trả nợ và tìm mọi cách tránh mặt bà T. Mặc dù, bà T đã rất nhiều lần tạo điều kiện về thời gian để trả nợ nhưng Công ty C1 và ông L vẫn không ý thức trả nợ. Do đó, xét thấy bên vay không có thiện chí hợp tác để thương lượng thanh toán nên bà T tiến hành khởi kiện Công ty C1 và ông L ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để thu hồi nợ.
1. Yêu cầu Tòa án buộc Công ty C1 ông L phải trả nợ cho bà T trong một lần toàn bộ số tiền nợ gốc là 365.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi lăm triệu đồng) và nợ lãi thực tế từ thời điểm phát vay cho đến thời điểm Công ty C1 và ông L thanh toán đứt điểm số tiền nợ theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp Công ty C1 và ông L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ số tiền trên. Để đảm bảo lợi ích hợp pháp của bà, bà được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thầm quyền xác minh, kê biên, phát mãi tài sản thuộc sở hữu đồng sở hữu của Công ty C1 và ông L để thi hành án.
3. Công ty C1 và ông L phải gánh chịu hoàn toàn mọi án phí và các chi phí liên quan, chi phí hợp lý khác trong suốt quá trình vụ án.
Bị đơn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên toà hôm nay:
- Đại diện ủy quyền của nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, rút lại các yêu cầu: “Trường hợp Công ty C1 và ông L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ số tiền trên. Để đảm bảo lợi ích hợp pháp của bà, bà được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thầm quyền xác minh, kê biên, phát mãi tài sản thuộc sở hữu đồng sở hữu của Công ty C1 và ông L để thi hành án và Công ty C1 và ông L phải gánh chịu hoàn toàn mọi án phí và các chi phí liên quan, chi phí hợp lý khác trong suốt quá trình vụ án”. Giữ yêu cầu buộc Công ty C1 và ông L cùng liên đới trả nợ gốc và lãi suất theo quy định của pháp luật cho đến ngày trả xong nợ. Đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn và ông L.
- Người làm chứng ông Dương Văn T1 trình bày: Ông xác định có chứng kiến giao dịch vay mượn của nguyên đơn và bị đơn là có thật, ông có ký tên vào Hợp đồng cho vay tiền ngày 15/3/2018 với tư cách là người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả được thẩm tra công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Phía bị đơn Công ty TNHH MTV C1 (viết tắt là Công ty C1) và ông Phạm Quí Phi Hồng L đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú, tại UBND phường A và tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều nhưng các đương sự nêu trên vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiếp tục xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên là hoàn toàn phù hợp.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn có giao dịch vay mượn với bị đơn vào ngày 15/3/2018, bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng thời hạn thỏa thuận nên giữa nguyên đơn và người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn ngày 06/7/2018 đã thỏa thuận về nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản là tiền gốc, nguyên đơn khởi kiện và có đơn yêu cầu xác định yêu cầu khởi kiện là “đòi lại tài sản”. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 155 Bộ luật dân sư năm 2015 (viết tắt là BLDS) xác định khởi kiện của nguyên đơn không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 BLDS và yêu của khởi kiện của nguyên đơn vẫn còn thời hiệu.
[3] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý: Giữa nguyên đơn và bị đơn Công ty C1 có giao dịch vay mượn, việc mua bán được thể hiện bằng hợp đồng cho vay tiền, sau đó do bị đơn không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi nên phía ông Phạm Quí Phi Hồng L đã lập Biên bản thỏa thuận xác nhận nợ và đề nghị sẽ trả lại tài sản là nợ gốc cho nguyên đơn, bị đơn và ông L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc và lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ. Do vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Bị đơn và ông L đang cư trú tại địa bàn quận N, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
4.1 Xét yêu cầu đòi lại tài sản là số nợ gốc của nguyên đơn:
Căn cứ vào đơn khởi kiện thể hiện nguyên đơn bà Phạm Bảo T có cho Công ty C1 – do ông Phạm Quí Phi Hồng L làm đại diện theo pháp luật vay tiền. Việc giao dịch vay mượn giữa nguyên đơn và bị đơn có lập hợp đồng cho vay tiền vào ngày 15/3/2018. Ngày 06/7/2018 ông Phạm Quí Phi Hồng L đã đứng ra xác lập lại số nợ gốc và thời gian thanh toán nợ gốc. Như vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 73 Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định: “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty”. Việc ông L là đại diện theo pháp luật và cũng là chủ sở hữu của Công ty TNHH MTC1 nên ông L ký xác nhận chịu trách nhiệm trả khoảng nợ của Công ty là phù hợp với quy định của pháp luật. Như vậy, xác định việc cho nguyên đơn cho vay và bị đơn còn nợ tiền của nguyên đơn là sự việc có thật. Giao dịch vay mượn được xác lập ngày 15/3/2018, thời hạn vay là 06 ngày, lãi suất vay là 6.000.000 đồng/ngày. Bị đơn không trả được nợ gốc và lãi đúng hạn nên các bên đã xác định số nợ gốc và thời hạn trả lần đầu là tháng 9/2018 và các lần trả tiếp theo trong thời hạn 03 năm tính từ ngày 06/7/2018. Theo nguyên đơn xác định kể từ ngày 06/7/2018 đến kỳ đầu tiên là cuối tháng 09/2018 bên bị đơn và ông L đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như cam kết. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại tài sản là tiền gốc đã cho vay mượn, tại phiên tòa đại diện nguyên đơn đã xuất trình được các chứng cứ gốc là “Hợp đồng cho vay tiền ngày 15/3/2018” và “Biên bản thỏa thuận ngày 06/7/2018”. Đồng thời, tại phiên tòa người làm chứng ông Dương Văn T1 cũng đã xác định có chứng kiến giao dịch vay mượn của nguyên đơn và bị đơn là có thật. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn Công ty C1 và ông Phạm Quí Phi Hồng L cùng liên đới trả nợ gốc 365.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
3.2 Xét yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn:
Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn yêu cầu tính lãi thực tế từ thời điểm phát vay cho đến thời điểm Công ty C1 và ông L thanh toán dứt điểm số tiền nợ. Hội đồng xét xử thấy rằng, đối với hợp đồng cho vay tiền của nguyên đơn và bị đơn đã hết thời hiệu khởi kiện 03 năm, nguyên đơn cũng đã có đơn yêu cầu xác định lại quan hệ tranh chấp là “Đòi lại tài sản” cụ thể là tiền nợ gốc, do vậy căn cứ vào “Biên bản thỏa thuận ngày 06/7/2018” để xem xét trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền của bị đơn theo quy định tại Điều 357 BLDS. Đối với yêu cầu tính lãi, tại phiên tòa đại diện nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật tính từ ngày 30/9/2018. Hội đồng xét xử căn cứ vào “Biên bản thỏa thuận ngày 06/7/2018” thấy rằng, giữa bị đơn và ông L chỉ xác định số nợ gốc và không có thỏa thuận về nghĩa vụ trả lãi nên lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 BLDS là “nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS”. Như vậy, mức lãi sẽ được tính là 10%/năm và thời gian tính lãi được tính kể từ ngày bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền lần đầu như “Biên bản thỏa thuận ngày 06/7/2018” đã nêu là cuối tháng 9/2018. Thời hạn cuối tháng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 146 BLDS là ngày cuối cùng của tháng 9, lãi sẽ tính từ ngày 30/9/2018 đến ngày xét xử sở thẩm 03/7/2024 là 05 năm 09 tháng 03 ngày, đại diện nguyên đơn yêu cầu tính tròn 05 năm 09 tháng. Lãi cụ thể là: 365.000.000 đồng x 10% x 05 năm 09 tháng = 209.875.000 đồng.
Đối với yêu cầu thanh toán lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm của đại diện ủy quyền của nguyên đơn, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định để chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
Đối với các yêu cầu: “Trường hợp Công ty C1 và ông L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ số tiền trên. Để đảm bảo lợi ích hợp pháp của bà, bà được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thầm quyền xác minh, kê biên, phát mãi tài sản thuộc sở hữu đồng sở hữu của Công ty C1 và ông L để thi hành án và Công ty C1 và ông L phải gánh chịu hoàn toàn mọi án phí và các chi phí liên quan, chi phí hợp lý khác trong suốt quá trình vụ án” của nguyên đơn, xác định đây là thẩm quyền của cơ quan có chức năng và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn xin rút lại các yêu cầu này nên Hội đồng xét xử ghi nhận và chấp nhận.
Từ những phân tích vừa nêu trên, Hội đồng xét xử chấp một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn Công ty C1 và ông L phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền nợ gốc và lãi phải trả cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật là 574.875.000 đồng, án phí tương ứng: 20.000.000 đồng + 4% (phần vượt quá 400 triệu đồng) = 26.995.000 đồng (hai mươi sáu triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
Nguyên đơn bà Phạm Bảo T được nhận lại 9.125.000 đồng (chín triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000613 ngày 30/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 105, khoản 2 Điều 155, Điều 166, Điều 357, Điều 429, Điềm 468 Bộ luật dân sự 2015; khoản 1 Điều 73 Luật Doanh nghiệp năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Bảo T đối với bị đơn Công ty TNHH MTV C1 và ông Phạm Quí Phi Hồng L. Buộc bị đơn Công ty TNHH MTV C1 và ông Phạm Quí Phi Hồng L cùng liên đới chịu trách nhiệm trả cho nguyên đơn bà Phạm Bảo T số nợ gốc và lãi tổng cộng là 574.875.000 đồng (năm trăm bảy mươi bốn triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Bảo T đối với bị đơn Công ty TNHH MTV C1 và ông Phạm Quí Phi Hồng L đối với các yêu cầu: “Trường hợp Công ty C1 và ông L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ số tiền trên. Để đảm bảo lợi ích hợp pháp của bà, bà được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thầm quyền xác minh, kê biên, phát mãi tài sản thuộc sở hữu đồng sở hữu của Công ty C1 và ông L để thi hành án và Công ty C1 và ông L phải gánh chịu hoàn toàn mọi án phí và các chi phí liên quan, chi phí hợp lý khác trong suốt quá trình vụ án”.
Bị đơn Công ty TNHH MTV C1 và ông Phạm Quí Phi Hồng L phải chịu: 26.995.000 đồng (hai mươi sáu triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng) án phí.
Nguyên đơn bà Phạm Bảo T được nhận lại 9.125.000 đồng (chín triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000613 ngày 30/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ ĐỖ THỊ DIỄM TRANG |
Bản án số 157/2024/DS - ST ngày 03/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 157/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trân kiện Cty Gia Đại Phát
