|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 157/2024/HS-ST Ngày 02-8-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Hồng – Cán bộ hưu.
- Bà Nguyễn Thị Biên – Giáo viên hưu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần trại tạm giam Công an tỉnh B xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 140/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn H, sinh năm 1998.
Quê quán: xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi thường trú: Xóm N, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông Vũ Văn H1, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị P, sinh năm 1973; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là thứ 2; Bị cáo có vợ là Đặng Thị S, sinh năm 1995 và có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 33 ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân huyện V, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong án phạt tù ngày 27/7/2023.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 31 ngày 14/8/2014 của Tòa án nhân huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 19 ngày 23/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 04 ngày 26/01/2016 của Tòa án nhân huyện V, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm số 19 ngày 23/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang buộc H chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là 32 tháng tù (thời điểm phạm tội dưới 18 tuổi). Đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích.
+ Ngày 07/10/2020 bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.
+ Ngày 06/5/2021 bị Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
(Có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Cháu Lý Văn S1, sinh ngày 11/10/2008.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lý Văn S2, sinh năm 1960.
Đều địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.
(Ông S2 và cháu S1 đều vắng mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lý Thị C, sinh năm 2003.
Nơi thường trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.
Nơi tạm trú: Thôn M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
(Chị C vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
(Anh H2 vắng mặt)
- Anh Đào Ngọc C1, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Anh C1 vắng mặt)
* Đại diện tổ chức chính trị xã hội tại địa phương nơi bị hại là cháu Lý Văn S1 sinh sống: Anh Hoàng Văn P1 - Bí thư chi đoàn T xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn H, sinh năm 1998, trú tại xóm N, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên có quen biết chị Lý Thị C, sinh năm 2003 trú tại thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn do có thời gian cùng làm công nhân tại khu công nghiệp V. Thông qua chị C thì H quen biết Lý Văn S1, sinh ngày 11/10/2008 là em trai chị C hiện thuê trọ và ở cùng với chị C tại tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Ngày 12/4/2024, H đi đến tổ dân phố M, phường N, thị xã V mục đích tìm việc làm.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, anh Lý Văn S1 tự ý sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số 88B1-199.23 của chị Lý Thị C chở là bạn gái tên là H3 (anh S1 không biết đầy đủ họ tên và địa chỉ) đi chơi trên đường liên thôn ở xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thì tình cờ gặp Vũ Văn H đang đi bộ trên đường. Sau đó, H nhờ anh S1 đưa đến khu vực cống chui thuộc phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Đến nơi, H xuống xe còn anh S1 chở chị H3 đi về.
Một lúc sau, anh S1 điều khiển xe mô tô Honda Blade biển số 88B1-199.23 đi chơi ở khu vực xã S, thành phố B thì gặp H đi trên đường. Anh S1 điều khiển xe chở H đi chơi trên một số tuyến đường ở xã S, thành phố B. Trong lúc đi chơi, H nhận được điện thoại của Nguyễn Văn H2, sinh năm 1996 là người quen biết với H trú tại thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhờ đến cổng làng L, xã S đón thì H đồng ý. H bảo anh S1 cho mượn chiếc xe mô tô để đi đón bạn thì anh S1 đồng ý cho mượn xe. H điều khiển xe mô tô Honda Blade biển số 88B1-199.23 đi đến cổng làng thôn L nhưng không gặp anh H2 nên quay lại chỗ anh S1 đang đứng chờ. Khoảng 10 phút sau, H nhận được điện thoại của anh H2 bảo ra đón thì H mượn xe mô tô của anh S1 đi ra gặp anh H2. Khi gặp nhau, anh H2 nhờ H chở đến nhà trọ của bạn ở thôn L, xã S, thành phố B. Trên đường đi, anh H2 bảo H dừng ở quán T1 mua đồ cá nhân rồi tiếp tục bảo H chở đến khu nhà trọ của bạn anh H2. Đến nơi, anh H2 xuống xe đi vào nhà trọ còn H điều khiển quay lại chỗ anh S1 đang đứng chờ. Theo H khai trên đường đi thì nảy sinh cầm cố chiếc xe máy của anh S1 lấy tiền chi tiêu cá nhân. Do không biết địa điểm cầm cố xe nên H gọi điện cho anh H2 hỏi giúp địa điểm để H cầm cố xe để vay tiền. Anh H2 điện thoại cho anh Đào Ngọc C1, sinh năm 1987, trú tại thôn S, xã S, thành phố B là người quen giới thiệu H cầm cố xe vay tiền thì anh C1 đồng ý. Sau đó, anh H2 điện thoại cho H chỉ dẫn đường đến quán của anh C1. H điều khiển xe mô tô đi đến quán B-a Club 8X của anh C1 đặt vấn đề cầm cố xe. Anh C1 hỏi về nguồn gốc xe mô tô thì H nói là xe của H và muốn cầm cố vay số tiền 1.500.000 đồng. Anh C1 đồng ý nhận cầm cố và trừ trước 200.000 đồng tiền lãi nên chỉ đưa cho H số tiền 1.300.000 đồng, H cầm tiền rồi đi ra khu vực ngã tư cao tốc đón xe khách đi về nhà. H khai đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết số tiền trên. Anh S1 chờ nhưng không thấy H trả xe nên điện thoại cho chị C đến đón về.
Ngày 26/4/2024, anh Lý Văn S1 có đơn trình báo. Cùng ngày, anh Đào Ngọc C1 tự nguyện giao nộp cho Công an xã S 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát 88B1-199.23.
Kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐ ngày 02/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen, biển kiểm soát 88B1-199.23 đăng ký lần đầu ngày 14/9/2016 có trị giá tại thời điểm ngày 14/4/2024 là 5.000.000 đồng.
Ngày 26/4/2024, Vũ Văn H giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 gắn sim số 0876.520.444. Kiểm tra điện thoại thấy có lưu số điện thoại số 0981.047.xxx của anh Nguyễn Văn H2. Ngày 27/4/2024, Cơ quan điều tra bắt giữ H về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Ngày 05/5/2024, Cơ quan điều tra đã cho anh Đào Ngọc C1 nhận dạng ảnh của Vũ Văn H và cho H nhận dạng ảnh của anh C1. Kết quả anh C1 và bị can H đều nhận đúng ảnh của nhau và xác định H đã đi xe mô tô Honda Blade biển kiểm soát 88B1-199.23 đến cầm cố cho anh C1 vay 1.500.000 đồng vào ngày 14/4/2024.
Cơ quan điều tra đã cho Vũ Văn H và anh Lý Văn S1 xác định hiện trường. Kết quả xác định địa điểm anh S1 cho H mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88B1-199.23 là tại đường T, xã S, thành phố B gần cột điện số 25.
Về xử lý vật chứng: Kết quả điều tra xác định chiếc xe mô tô Honda Blade biển kiểm soát 88B1-199.23 thuộc quyền sở hữu của chị Lý Thị C nên Cơ quan điều tra trả lại cho chị C chiếc xe mô tô trên. Chiếc điện thoại thu giữ của H được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Đào Ngọc Cảnh không yêu cầu bị can Vũ Văn H bồi thường số tiền 1.300.000 đồng.
Đối với anh Nguyễn Văn H2 được Vũ Văn H nhờ giúp tìm địa điểm cầm cố xe mô tô và anh Đào Ngọc Cảnh nhận cầm cố chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88B1-199.23 nhưng đều không biết là tài sản do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 145/CT-VKS ngày 11 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Vũ Văn H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, i khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Văn H từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 08 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời gian tù tính từ ngày 27/4/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 gắn sim số 0876.520.444
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, rất ăn năn hối hận về hành vi của bản thân, đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để có cơ hội cải sửa bản thân, trở thành công dân có ích của xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 14/4/2024, anh Lý Văn S1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số 88B1-199.23 chở Vũ Văn H đi chơi ở xã S, thành phố B. Sau đó, H mượn chiếc xe mô tô của anh S1 để đón anh Nguyễn Văn H2 đưa về phòng trọ. Sau khi đưa anh H2 về phòng trọ xong, H nảy sinh cầm cố chiếc xe máy của anh S1 lấy tiền chi tiêu cá nhân. H cầm cố chiếc xe mô tô Honda Blade biển số 88B1-199.23 cho anh Đào Ngọc C1 ở thôn S, xã S, thành phố B vay 1.300.000 đồng sử dụng chi tiêu hết dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Chiếc xe mô tô mà H chiếm đoạt của anh S1 trị giá 5.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe trả lại chủ sở hữu. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về hình sự, 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn cố ý phạm tội. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn để đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[5] Xét về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 1 tiền án và phạm tội với người dưới 16 tuổi nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h, i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, nhận thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: do bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đào Ngọc Cảnh không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 gắn sim số 0876.520.444 là công cụ thực hiện phạm tội của bị cáo
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Đối với anh Nguyễn Văn H2 được Vũ Văn H nhờ giúp tìm địa điểm cầm cố xe mô tô và anh Đào Ngọc Cảnh nhận cầm cố chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88B1-199.23 nhưng đều không biết là tài sản do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
[12] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm điểm b khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, i khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- 1. Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 01 năm 04 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2024.
- - Về vật chứng: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 gắn sim số 0876.520.444
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 157/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn H Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
