Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 157/2025/HSST

Ngày: 24/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Phi Hổ Ông Trần Công Danh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Lê Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quốc Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/2025/HSST ngày 06/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2025/QĐXXST-HS ngày 05/3/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Văn H

Tên gọi khác: Không

Giới tính: Nam

Sinh năm: 1983.

Nơi cư trú: không nơi ở nhất định (Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố F, thị trấn T, huyện B, tỉnh Lào Cai)

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: lớp 7/12 Nghề nghiệp: Không.

Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không

Họ tên cha: Phạm Văn S - sinh năm 1959.

Họ tên mẹ: Lê Thị T - sinh năm 1960.

Bị cáo là con duy nhất trong gia đình, có vợ tên Hoàng Thị H1 (sinh năm 1984, đã ly hôn) và có 02 (hai) con chung sinh năm 2004 và 2006. Hiện nay, bị cáo có vợ tên Đỗ Thị T1 (sinh năm 1983).

Tiền án:

  • Ngày 12/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Ngày 24/4/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
  • Ngày 06/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Nhân thân:

  • Ngày 09/5/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  • Ngày 20/9/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: không.

Hiện nay bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam X thuộc Bộ C1.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn P

Tên gọi khác: Không

Giới tính: Nam

Sinh năm: 1986

Nơi cư trú: không nơi ở nhất định (Nơi đăng ký thường trú: khu phố M, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai).

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo.

Trình độ học vấn: lớp 12/12 Nghề nghiệp: Không.

Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không

Họ tên cha: Nguyễn Văn M - sinh năm 1939.

Họ tên mẹ: Cao Thị N (Tươi) - sinh năm 1942.

Gia đình có 09 chị em, bị cáo là con thứ 8. Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Mai Thị T2 (sinh năm 1995), có 01 (một) con sinh năm 2012 và sống chung như vợ chồng với chị Đặng Thị Kim C (sinh năm 1998), có 01 (một) con sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

Ngày 14/12/2011 bị Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình ban hành quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc.

Bị cáo bị bắt từ ngày 11/11/2024. Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B.

- Bị hại: Bà Cao Thị Hồng L, sinh năm 1989

Địa chỉ: Tổ B, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo P có mặt tại phiên toà; bị cáo H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị hại vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 07/3/2024, Phạm Văn H gọi điện rủ Nguyễn Văn P cùng đi trộm cắp tài sản để có tiền mua ma tuý thì P đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô, biển số 60F4-048.45 đến phòng trọ của P tại phường P, thành phố B chơi và ở đây đến 17 giờ cùng ngày thì đi trộm cắp tài sản. Lúc này, P điều khiển xe mô tô, biển số 60F4-048.45 chở theo H đi đến khu vực phường T tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến trước nhà thuộc tổ B, khu phố L, phường T, thành phố B do chị Cao Thị Hồng L làm chủ thì H thấy cửa cuốn đang mở, trong nhà có dựng 01 (một) xe mô tô, biển số 60B8-802.74 và có cắm sẵn chìa khoá trên xe. Lúc này, H nói P đứng ở phía ngoài cảnh giới còn H đi vào dắt trộm xe mô tô biển số 60B8-802.74 ra ngoài đường rồi nổ máy, tẩu thoát. Khi đi được khoảng 100 mét thì H gỡ biển số xe 60B8-802.74 ra, vứt bỏ ở ven đường rồi mở cốp xe mô tô, biển số 60F4-048.45 do P đang điều khiển, lấy ra 01 (một) biển số 60X7-2655 mà H đã nhặt được từ trước. Tiếp đó, H gắn biển số 60X7-2655 vào xe mô tô trộm cắp được rồi H và P chạy xe về căn lều của H tại phường T, thành phố B.

Khoảng 08 giờ ngày 08/4/2024, H điều khiển xe mô tô gắn biển số 60X7-2655 chở theo chị Đinh Thị H2 (sinh năm 1972) ngụ thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng đến Bệnh viện Đ để chị H2 khám bệnh. Sau đó, H nói chị H2 chạy xe vào gửi tại bãi giữ xe của bệnh viện rồi đưa lại thẻ giữ xe cho H rồi H đi về trước.

Khoảng 16 giờ ngày 10/4/2024, H điều khiển xe mô tô, biển số 60F4-048.45 đến phòng trọ của P và chở P đến bãi giữ xe của bệnh viện Đ để lấy xe mô tô, biển số 60X7-2655. Khi đến nơi, P ngồi ngoài đợi còn H đi vào trong bãi giữ xe của bệnh viện Đ để lấy xe. Khi H vừa dắt xe mô tô biển số 60X7-2655 ra ngoài bãi giữ xe thì H và P bị Công an phường L mời về trụ sở làm việc. Tại đây, H và P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Ngoài ra, Phạm Văn H còn thực hiện hành vi phạm tội tại huyện T nên Công an phường L đã bàn giao H cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xử lý.

Tại bản kết luận định giá số 164/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2024, của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: “01 (một) xe mô tô biển số 60B8-802.74 trị giá 13.500.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng)”

Vật chứng của vụ án:

  • 01 (một) xe mô tô số khung: 5807EY870079, số máy: JF58E0870131 là tài sản của chị Cao Thị Hồng L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho chị L.
  • 01 (một) biển số 60B8-802.74: Phạm Văn H đã vứt bỏ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được
  • 01 (một) biển số 60X7-2655: Qua xác minh thì biển số xe được cấp cho chị Lê Thị Bích T3 ngụ khu phố F, phường T (nay là phường T), thành phố B và vẫn đang được chị T3 sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã bàn giao biển số trên cho Phòng C2 Công an tỉnh Đ xử lý.
  • 01 (một) xe mô tô biển số 60F4-048.45 được các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội là vật chứng trong vụ án khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã chuyển xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xử lý.
  • 02 (hai) điện thoại di động (không rõ nhãn nhiệu): Nguyễn Văn P và Phạm Văn H sử dụng để liên lạc với nhau, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.

Về dân sự: chị Cao Thị Hồng L đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 113/CT-VKSBH ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt:

Bị cáo H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Bị cáo P từ 06 tháng đến 01 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 07/3/2024 tại nhà thuộc tổ B, khu phố L, phường T, thành phố B, Phạm Văn H và Nguyễn Văn P đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Cao Thị Hồng L 01 (một) xe mô tô, biển số 60B8-802.74 trị giá 13.500.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) thì bị bắt giữ để điều tra xử lý.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với bị cáo Phạm Văn H đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử năm 2015 xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản”; năm 2019 bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo Phạm Văn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Văn P là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo P bị bắt theo lệnh truy nã. Do đó, cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đối với bị cáo H đã bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bản án đã có hiệu lực pháp luật. Do đó tổng hợp hình phạt để buộc bị cáo H phải chấp hành án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo P phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Chị Cao Thị Hồng L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường, nên không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đối với hành vi của Đinh Thị H2, cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

[10] Đối với hành vi của bị cáo P thực hiện tại T, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục điều tra làm rõ xử lý theo quy định.

[11] Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14:

    Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm tù tại bản án số 253/2024/HSST ngày 20/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng cộng bị cáo phải chấp hành 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 13/4/2024.

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 11/11/2024.

  3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị cáo H, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - VKSND (2);
  • - CABH-BC, BH (6);
  • - THA (6);
  • - Lưu (6).

Lê Ngọc Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2025/HSST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 157/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Hà
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger