TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 157/2025/HSST Ngày 17/6/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Trồi
Ông Trương Công Tráng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đại – Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 130/2025/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2025/QĐXXST-HS ngày 05/6/2025 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc H, sinh năm 1986; hộ khẩu thường trú: Số nhà F, tổ E, tổ dân phố T, X, huyện C, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; đảng phái: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; con ông Phạm Ngô H1 (đã chết); con bà Phạm Thị L, sinh năm 1967; Vợ Hoàng Thị T (đã ly hôn) và có 02 con (con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014); danh, chỉ bản số 170 lập ngày 18/3/2025 tại Công an quận H;
Tiền án: Có 05 tiền án
- Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2008/HSST ngày 28/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình và Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 05/2008/HSPT-QĐ ngày 01/8/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt Phạm Ngọc H 24 tháng tù được trừ 06 tháng tạm giam còn lại 18 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, về tội “Đánh bạc”. (chưa xóa án tích)
- Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2008/HSST ngày 29/9/2008 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội xử phạt Phạm Ngọc H 24 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2008/HSST ngày 28/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Buộc Phạm Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 42 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/3/2011. (chưa xóa án tích)
- Bản án hình sự sơ thẩm số 373/2013/HSST ngày 18/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, TP Hà Nội xử phạt Phạm Ngọc H 24 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/5/2015. (chưa xóa án tích)
- Bản án hình sự sơ thẩm số 137/2015/HSST ngày 16/11/2015 Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội xử phạt Phạm Ngọc H 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (chưa xóa án tích)
- Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2016/HSST ngày 01/02/2016 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội xử phạt Phạm Ngọc H 07 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 36 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 137/2015/HSST ngày 16/11/2015 Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội. Buộc Phạm Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/11/2023. (chưa xóa án tích).
Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 30/7/2008 bị Công an huyện C xử phạt hành chính về hành vi đưa hối lộ.
Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2025; bị cáo tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Anh Phan Văn Hoàng A, sinh năm 2001; nơi thường trú: T, thị trấn Đ, L, Bắc Giang; tạm trú: Số H hẻm A ngách A Ỷ, tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Vũ Đức S, sinh năm 2005; HKTT: Thôn X, B, N, Nam Định; trú tại: Số C ngõ A đường N, Y, H, Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Vũ Văn M, sinh năm 1981; trú tại: Thôn X, B, N, Nam Định. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3/2025, Phạm Ngọc H có quen biết với 01 đối tượng nam giới tên “T1” (không rõ nhân thân, lai lịch) chuyên mua bán xe máy không giấy tờ qua mạng xã hội. T1 trao đổi, thảo thuận với H nếu có xe máy thì bán cho T1 với giá 7.000.000 đồng/chiếc. T1 thỏa thuận H khi nào có xe máy muốn bán thì mang đến nhà nghỉ N1, địa chỉ: số A đường M, phường M, quận N, TP Hà Nội và nói với lễ tân nhà nghỉ là gửi xe cho nhà xe “Ngọc Thuận” chạy tuyến từ TP Hà Nội đến tỉnh Sơn La, rồi T1 sẽ chuyển tiền cho H. Lợi dụng sơ hở của các chủ tài sản, Phạm Ngọc H đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào các ngày 11/3/2025 và 13/3/2025 tại phường D, quận H, TP Hà Nội, cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất:
- Vụ thứ hai:
Khoảng 01 giờ sáng ngày 11/3/2025, Phạm Ngọc H đi xe ôm từ phòng trọ tại số A ngõ H L, phường M, quận N, TP Hà Nội đến khu vực phường Y, quận H, TP Hà Nội để trộm cắp tài sản. Đến nơi, H xuống xe, đi bộ đến trước cửa số nhà C ngõ A N, phường Y, quận H, TP Hà Nội thì phát hiện 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn X-Xám-Đen, BKS: 18B2-667.90, số khung: 3855LY041250, số máy: JA52E0179873 của anh Vũ Đức S (Sinh năm: 2005; HKTT: xã B, huyện N, tỉnh Nam Định) đang để trước cửa nhà, không khóa cổ, khóa càng. Thấy vậy, H tiến lại gần, dắt bộ chiếc xe máy BKS: 18B2-667.90 này một đoạn, rồi đấu dây điện cho xe nổ máy và lên xe tẩu thoát. Khi đi đến đoạn đường đại lộ T thì H dừng xe, tháo chiếc BKS vứt đi, rồi điều khiển chiếc xe máy này về phòng trọ của H tại số A ngõ H L, phường M, quận N, TP Hà Nội để cất giấu. Đến khoảng 07 giờ 30 phút sáng cùng ngày, H mang chiếc xe máy này đến nhà nghỉ N1 3 theo thỏa thuận và gọi điện thoại qua ứng dụng zalo (không rõ thông tin) để báo cho T1. Sau đó, T1 bảo H cung cấp số tài khoản ngân hàng để T1 chuyển tiền. Do không có tài khoản ngân hàng nên H đã đến quán nước của anh Nguyễn Đình T2 (Sinh năm: 1978; HKTT: xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương) ở địa chỉ số A đường P, phường M, quận N, TP Hà Nội, mượn mã QR tài khoản ngân hàng T5 số 19036204600010 đứng tên chị Nguyễn Thị T3 (Sinh năm: 1982 – là vợ của anh T2), rồi gửi qua zalo cho T1. Sau đó, tài khoản ngân hàng T5 số 19036204600010 nhận được số tiền 7.000.000 đồng từ số tài khoản ngân hàng M1 số 89951868 đứng tên Nguyễn Thị T4. Khi nhận được tiền, anh T2 đã đưa số tiền mặt 7.000.000 đồng cho H và được H trả số tiền 30.000 đồng phí chuyển tiền. Số tiền này H đã ăn tiêu cá nhân hết.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày 11/3/2025, ông Lê Huy N (Sinh năm: 1964; HKTT: tổ A, phường T, TP S, tỉnh Sơn La - là lái xe của nhà xe N2) được 01 người không quen biết thuê đến nhà nghỉ N1 3 lấy chiếc xe máy trên, rồi chuyển lên xe khách và chở đến khu vực ngã ba D, phường C, TP S, tỉnh Sơn La giao cho 01 người nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch).
Đến ngày 14/3/2025, anh Vũ Đức S đã đến Công an phường D trình báo về việc bị mất trộm 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn X-Xám-Đen, BKS: 18B2-667.90 nêu trên. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T giải quyết theo thẩm quyền.
Khoảng 01 giờ sáng ngày 13/3/2025, Phạm Ngọc H đi xe ôm từ tại số A ngõ H L, phường M, quận N, TP Hà Nội đến khu vực phường D, quận H, TP Hà Nội để tiếp tục trộm cắp. Khi đến nơi, H xuống xe, đi bộ đến khu vực nhà trọ tại địa chỉ: số H ngách A ngõ A đường Ỷ, phường D, quận H, TP Hà Nội thì phát hiện cửa dãy nhà trọ không khóa, bên trong sân có để 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Xanh-Bạc, BKS: 98F1-442.34, số khung: RLHJA3929PY474628, số máy: JA39E3095681 của anh Phan Văn Hoàng A (Sinh năm: 2001; HKTT: thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang) không khóa cổ, khóa càng, không có người trông giữ. H đi vào dãy trọ và dắt chiếc xe máy BKS: 98F1-442.34 này ra ngoài. Khi đi được khoảng 50 mét thì H dùng tay đấu dây điện cho xe nổ máy, rồi tẩu thoát. Khi đi đến khu vực đại lộ T, H tháo bỏ chiếc BKS: 98F1-442.34, rồi điều khiển chiếc xe máy trên về phòng trọ tại số A ngõ H L, phường M, quận N, TP Hà Nội để cất giấu. Đến khoảng 07 giờ 30 phút sáng cùng ngày, H mang chiếc xe máy trên đến nhà nghỉ N1 3 theo thỏa thuận và gọi điện thoại qua ứng dụng zalo để báo cho T1. Sau đó, H tiếp tục đi đến quán nước của anh Nguyễn Đình T2, mượn mã QR tài khoản ngân hàng T5 số 19036204600010, rồi gửi qua zalo cho T1. Sau đó, tài khoản ngân hàng T5 số 19036204600010 nhận được số tiền 7.000.000 đồng từ số tài khoản ngân hàng M1 số 89951868 đứng tên Nguyễn Thị T4. Khi nhận được tiền, anh T2 đã đưa số tiền mặt 7.000.000 đồng cho H và được H trả số tiền 30.000 đồng phí chuyển tiền. Số tiền này H đã ăn tiêu cá nhân hết.
Ngày 13/3/2025, anh Phan Văn Hoàng A đã đến Công an phường D trình báo trình báo về việc bị mất trộm 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Xanh-Bạc, BKS: 98F1-442.34 nêu trên.
Cùng ngày 13/3/2025, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Phạm Ngọc H đã đến Công an phường D xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bản thân và giao nộp chiếc xe máy trên.
* Vật chứng đã thu giữ: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Xanh-Bạc, không có biển kiểm soát, số khung: RLHJA3929PY474628, số máy: JA39E3095681, đã qua sử dụng, do Phạm Ngọc H tự nguyện giao nộp.
Ngày 14/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T đã ra văn bản Yêu cầu định giá tài sản số A168 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận H xác định giá trị đối với 02 chiếc xe máy trong các vụ việc nêu trên. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 27 của Hội đồng định giá trong TTHS quận H, kết luận:
- “- 01 (một) chiếc xe máy Honda Wave, màu xanh bạc, số khung: RLHJA3929PY474628, số máy: JA39E3095681 (đã thu được tang vật) có giá 16.340.000 đồng.
- - 01 (một) chiếc xe máy Honda Wave, màu xanh xám đen, BKS: 18B2-667.90 số khung: 3855LY041250, số máy: JA52E0179873 (chưa thu được tang vật) có giá 12.730.000 đồng.”
Ngày 14/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp số A21 tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Ngọc H tại địa chỉ: số A, ngõ H L, phường M, quận N, TP Hà Nội. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Cáo trạng số 124/CT-VKS-HĐ ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Phạm Ngọc H về tội Trộm cắp tài sản điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi đánh giá tính chât mức độ hành vi phạm tội, vai trò phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội Trộm cắp tài sản.
- + Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/3/2025.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, hiện đang bị tạm giam đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- + Về trách nhiệm dân sự: Anh Phan Văn Hoàng A đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nữa nên không đề nghị giải quyết. Anh Vũ Đức S chưa nhận được tài sản, anh yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên buộc bị cáo phải bồi thường giá trị xe theo định giá cho anh S số tiền 12.730.000 đồng.
- + Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Xanh-Bạc, BKS: 98F1-442.34, đã thu hồi xe trả lại bị hại Phan Văn Hoàng A, chiếc xe này bị cáo đã bán cho người tên T1, bị cáo được hưởng lợi 7.000.000 đồng, cần truy thu số tiền này của bị cáo để sung công quỹ nhà nước.
- + Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí.
- Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo hứa sẽ có trách nhiệm bồi thường cho bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nội dung: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền tiêu sài, trong các ngày 11/3/2025 và ngày 13/3/2025 Phạm Ngọc H đã 2 lần lén lút chiếm đoạt xe máy của bị hại để bán cho người tên T1 có tên zalo “Cố gắng” chuyên mua bán xe máy không có giấy tờ qua mạng xã hội để hưởng lợi 7.000.000 đồng/1 xe. Cụ thể:
- Ngày 11/3/2025 bị cáo phát hiện thấy 01 chiếc xe nhãn hiệu Honđa Wave RSX, màu sơn X-Xám-Đen, BKS 18B2-667.90 của anh Vũ Đức S để trước cửa nhà số C ngõ A N, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội không khóa cổ, không khóa càng, bị cáo dắt xe ra ngoài, đấu dây điện cho xe nổ rồi tẩu thoát, tháo bỏ BKS. Chiếc xe định giá trị giá 12.730.000 đồng.
- Ngày 13/3/2025, bị cáo phát hiện thấy 01 chiếc xe nhãn hiệu Honđa Wave, màu sơn Xanh-Bạc, BKS 98F1-442.34 của anh Phan Văn Hoàng A đang dựng ở khu nhà trọ số H ngách A ngõ A đường Ỷ, phường D, quận H, thành phố Hà Nội, xe không khóa cổ, không khóa càng, bị cáo dắt xe ra ngoài, đấu dây điện cho xe nổ rồi tẩu thoát, tháo bỏ BKS. Chiếc xe định giá giá trị 16.340.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 29.070.000 đồng.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo Điều 173 của Bộ luật hình sự năm. Bị cáo có 5 tiền án chưa được xóa án tích lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung của hình phạt. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát quận H đã truy tố bị cáo theo điểm g “tái phạm nguy hiểm” khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.
- Đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo khi quyết định hình phạt Hội đồng xem xét thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự tại địa phương, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhiều lần bị xét xử nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân, lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, 05 bản án xét xử đối với bị cáo, chưa được xóa án tích, xác định là tình tiết định khung của hình phạt “tái phạm nguy hiểm” nên không xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện 2 lần chiếm đoạt tài sản, giá trị tài sản chiếm đoạt trên 5.000.000 đồng nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 2 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện đầu thú và giao nộp chiếc xe máy cơ quan điều tra trả cho anh S nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đang bị tạm giam, trước đó không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự cũng là phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự:
Anh Phan Văn Hoàng A đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Tòa không xét.
Chiếc xe máy nhãn hiệu Honđa Wave RSX, màu sơn X-Xám-Đen, BKS 18B2-667.90, số khung 3855LY041250, số máy: JA52E0179873 giấy tờ xe mang tên ông Vũ Văn M (bố của anh Vũ Đức S). Ông M đã có đơn xác nhận chiếc xe này ông M đã cho anh S sở hữu và quản lý, không có khiếu nại, thắc mắc gì. Anh S chưa nhận được xe và có yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh giá trị chiếc xe theo kết luận định giá 12.730.000 đồng. Xét yêu cầu của anh S là có căn cứ nên buộc bị cáo phải bồi thường cho anh S số tiền 12.730.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn X-Xám-Đen, BKS: 98F1-442.34, đã thu hồi xe trả lại bị hại Phan Văn Hoàng A. Bị cáo đã bán chiếc xe trên cho người tên T1 nhưng xe chưa kịp giao cho T1, bị cáo được hưởng lợi 7.000.000 đồng, do đó truy thu số tiền này của bị cáo để sung công quỹ nhà nước.
- Các nội dung khác:
- Đối với đối tượng tên “T1” là người bàn bạc, giao dịch mua 02 chiếc xe máy mà H trộm cắp nêu trên: Tại Cơ quan điều tra, H khai nhận chỉ quen biết T1 qua mạng xã hội zalo tên “Cố gắng”, không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của T1. Cơ quan điều tra cũng đã xác minh tên zalo tại Công ty cổ phần V nhưng do thông tin không đủ nên VNG không thể hỗ trợ cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan điều tra được. Ngoài lời khai của H thì không có tài liệu chứng cứ nào khác, nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, đủ căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
- Đối với anh Nguyễn Đình T2 là người cho H mượn tài khoản để nhận tiền từ việc mua bán xe máy trộm cắp: Quá trình điều tra xác định, anh T2 không biết số tiền 14.000.000 đồng mà H nhờ nhận hộ là tiền do mua bán xe máy trộm cắp mà có. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là thỏa đáng.
- Đối với số tài khoản ngân hàng M1 số 89951868 đứng tên Nguyễn Thị T4 đã 02 lần chuyển tổng số tiền 14.000.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng T5 số 19036204600010 của anh T2, để anh T2 đưa tiền mặt cho H: Quá trình điều tra xác định, số tài khoản ngân hàng M1 số 89951868 đứng tên chị Nguyễn Thị T4 (Sinh năm: 1991; HKTT: tổ A, phường Y, quận H, TP Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, chị T4 khai vào ngày 11/3/2025 và 13/3/2025, có 01 người nam giới không quen biết đến cửa hàng điện thoại “Trang Long” của chị T4 tại địa chỉ số C, tổ A, phường Y, quận H, TP Hà Nội nhờ chuyển giúp tổng số tiền 14.000.000 đồng (mỗi lần chuyển 7.000.000 đồng) đến tài khoản ngân hàng của anh T2 nêu trên và trả phí chuyển tiền cho chị T4 tổng số tiền 20.000 đồng. Chị T4 không biết mục đích của việc chuyển tiền và không quen biết người nam giới trên. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
- Đối với ông Lê Huy N là người đã chở thuê chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn X-Xám-Đen, BKS: 18B2-667.90 (do H trộm cắp được ngày 11/3/2025) giao cho 01 nam thanh niên tại khu vực ngã ba D, phường C, TP S, tỉnh Sơn La: Quá trình điều tra xác định, ông N không biết chiếc xe máy nêu trên là do Phạm Ngọc H trộm cắp mà có, không quen biết người nam giới thuê vận chuyển xe. Ngoài lời khai của ông N thì không có tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến người nam giới đã thuê vận chuyển và nhận chiếc xe máy nêu trên. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội Trộm cắp tài sản.
- - Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H 32 tháng tù. thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/3/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584 của Bộ luật dân sự; Điều 46 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại xe cho anh Vũ Đức S số tiền 12.730.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành án thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Truy thu của bị cáo số tiền thu lời bất chính 7.000.000 đồng.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 637.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hạnh |
Bản án số 157/2025/HSST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 157/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc H có hành vi Trộm cắp tài sản 2 chiếc xe máy có tổng giá trị là 29.070.000 đồng.
