Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 157/2025/HS-ST

Ngày 25 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAΙ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Dương Thị Thùy Trinh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài;

Ông Nguyễn Đình Quang;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 136/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 156/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025, đối với:

- Các bị cáo:

  1. Đinh Văn N, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1965 tại Mỹ Tho; căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 07/5/2022; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Viết L và bà Đinh Thị L1; Bị cáo có vợ (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Văn C, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1968 tại Thành phố Hồ Chí Minh; căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 27/12/2021; nơi cư trú: ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1 và bà Phạm Thị T; Bị cáo có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/12/2024 đến ngày 22/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Văn H, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1974 tại Đồng Nai; căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 09/3/2022; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị N2; Bị cáo có vợ và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/12/2024 đến ngày 22/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  4. Đinh Đức H1, sinh ngày 27 tháng 10 năm 1977 tại Đồng Nai; căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 14/10/2022; nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Đức T1 và bà Nguyễn Thị T2; Bị cáo có vợ và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày13/12/2024 đến ngày 22/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  5. Phạm Văn H2, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1971 tại Thành phố Hồ Chí Minh; căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 21/3/2022; nơi cư trú: ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: thợ xây; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T3 và bà Phạm Thị P; Bị cáo có vợ và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/12/2024 đến ngày 22/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Đinh Văn N, Đinh Đức H1, Phạm Văn H2, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Hlà bạn bè quen biết nhau. Vào khoảng 08 giờ ngày 13/12/2024, N đi uống cà phê tại ngã ba T cùng H1, H2, C và H. Tại đây, H1, H2, C và H rủ nhau chơi đánh bạc với hình thức đánh bài “phỏm” ăn tiền thì tất cả đồng ý. Sau đó H1 nói với N về việc mượn nhà của N thuộc ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai để làm địa điểm đánh bạc và sẽ đưa tiền xâu cho N thì N đồng ý. Lúc này cả 04 người về nhà của N để tham gia đánh bạc, và được N cung cấp 01 bộ bài tây 52 lá làm dụng cụ đánh bạc.

Hình thức chơi bạc như sau: Các bị cáo sử dụng 01 bộ bài tây gồm 52 lá chia cho mỗi người 09 lá bài, riêng người chia được chia 10 lá bài và sẽ là người đánh trước, phần bài còn lại được đặt giữa chiếu bạc. Nếu lá bài đánh xuống người bên cạnh kết hợp với các lá bài của mình đang có gồm ít nhất 03 lá bài giống nhau hoặc liền nhau cùng chất thì được ăn lá bài đó để tạo thành “phỏm” và đánh ra lá bài khác cho người kế tiếp, nếu không ăn được thì bốc thêm 01 lá bài ở phần bài chưa chia rồi đánh ra 01 lá bài cho người kế tiếp. Mỗi ván người chơi được bốc và đánh tối đa 04 lượt. Trong quá trình đánh bạc nếu người nào trong 10 lá bài trên tay có 09 lá tạo thành “Phỏm” được gọi là “Ù”. Mỗi ván các con bạc thắng thua từ 200.000 đồng đến 800.000 đồng. Quá trình điều tra thể hiện: Đinh Văn N đồng ý cho Đinh Đức H1, Phạm Văn H2, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn H sử dụng nhà của mình làm địa điểm đánh bạc và cung cấp 01 bộ bài tây 52 lá làm công cụ đánh bạc nhằm mục đích thu tiền xâu. Quá trình đánh bạc N đã thu xâu được số tiền 20.000 đồng, tuy nhiên N đã sử dụng để mua nước uống. Nguyễn Văn C đem theo và sử dụng số tiền 3.220.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc C thua số tiền 450.000 đồng. Nguyễn Văn H đem theo số tiền 6.000.000 đồng và sử dụng số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc H thắng số tiền 710.000 đồng. Đinh Đức H1 đem theo và sử dụng số tiền 1.850.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Hoàng thắng số tiền 120.000 đồng. Phạm Văn H2 đem theo và sử dụng số tiền 510.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc H2 thua số tiền 380.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 7.080.000 đồng (bảy triệu không trăm tám mươi ngàn đồng).

2. Vật chứng của vụ án:

  • - 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng;
  • - Số tiền 7.080.000 đồng (bảy triệu không trăm tám mươi ngàn đồng);
  • - 06 điện thoại di động các loại thu giữ của Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn H, Đinh Đức H1, Phạm Văn H2;
  • - Số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn H.

3. Cáo trạng và trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

3.1 Truy tố: Tại bản cáo trạng số 142/CT-VKS-TB ngày 13 tháng 5 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Đinh Văn N, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn H, Phạm Văn H2, Đinh Đức H1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

3.2 Tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị:

3.2.1. Về hình phạt:

  • - Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn N, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn H, Phạm Văn H2, Đinh Đức H1 phạm tội “Đánh bạc”; Xử phạt các bị cáo Đinh Văn N, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn H, Phạm Văn H2, Đinh Đức H1 mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

3.2.2. Về xử lý vật chứng đề nghị:

  • - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 7.080.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc;
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng.
  • - Đối với 06 điện thoại di động các loại thu giữ của Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn H, Đinh Đức H1, Phạm Văn H2 và số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn H không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho các bị cáo là phù hợp;

3.2.3. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, có đủ cơ sở để xác định vào ngày 13/12/2024, bị cáo Đinh Văn N đã có hành vi cung cấp dụng cụ đánh bạc và địa điểm là nhà của mình tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai để các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn H, Đinh Đức H1 và Phạm Văn H2 đánh bạc “phỏm” thắng thua bằng tiền nhằm mục đích thu tiền xâu; với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 7.080.000 đồng (bảy triệu không trăm tám mươi ngàn đồng).

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội danh như đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Về trách nhiệm hình sự:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

3.3. Về hình phạt:

Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, mang tính bộc phát, không có người cầm đầu, tất cả các bị cáo đều là người thực hiện hành vi phạm tội với vai trò như nhau. Các bị cáo đều nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài lần phạm tội này đều chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là đủ để giáo dục và phòng ngừa chung; do đó áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 7.080.000 đồng (bảy triệu không trăm tám mươi ngàn đồng);

Theo biên lai thu tiền số 0003730 ngày 21/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng;

Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.

  • - Đối với 06 điện thoại di động các loại thu giữ của Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn H, Đinh Đức H1, Phạm Văn H2 và số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn H không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho các bị cáo là phù hợp.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với các nhận định nêu trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

  • - Tuyên bố bị cáo Đinh Văn N, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn H, Đinh Đức H1 và Phạm Văn H2 phạm tội “Đánh bạc”;
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng);
  • - Xử phạt bị cáo Đinh Đức H1 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng);
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng);
  • - Xử phạt bị cáo Phạm Văn H2 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng);
  • - Xử phạt bị cáo Đinh Văn N 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng);

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017);

  • - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 7.080.000 đồng (bảy triệu không trăm tám mươi ngàn đồng);

Theo biên lai thu tiền số 0003730 ngày 21/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng;

Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Đinh Văn N, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn H, Đinh Đức H1 và Phạm Văn H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện;
  • - VKSND tỉnh;
  • - UBND cấp xã và Công an cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND cấp xã nơi b/c cư trú;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh;
  • - TAND tỉnh;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Thùy Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 157/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger