|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:157/2025/HS-ST
Ngày 24- 3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Vụ
- Bà Nguyễn Thị Hằng
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.
- - Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Công S - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Duy Anh L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1998, tại Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nơi thường trú: Số C Q, phường Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: P, Tòa nhà A, Chung cư C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; con ông Lê Duy L1 (đã chết) và bà Đỗ Thị L2; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2015 bị Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác; Năm 2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đã chấp hành xong
Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 27/9/2024 đến ngày 06/10/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh T – Phân trại tạm giam khu vực thành phố T
2. Họ và tên: Nguyễn Duy T; Tên gọi khác: không; Giới tính N; sinh năm 1986, tại Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nơi thường trú: Số H T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Số C N, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; con ông Nguyễn Duy N1 đã chết) và bà Lê Thị M. Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình có 05 anh chị em. Vợ: Trần Thị Nhật H (chưa đăng ký kết hôn) có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2008 bị TAND Thành phố Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; Năm 2008 bị TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Năm 2013 Bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Năm 2017 bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong ngày 01/5/2019.
Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 29/9/2024 đến ngày 06/10/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh T – Phân trại tạm giam khu vực thành phố T
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào 16 giờ 30 phút ngày 27/9/2024, Tổ công tác Công an phường Đ đang làm nhiệm vụ tại khu vực hành lang tầng 6, nhà A, Chung cư C thuộc phường Đ, thành phố T phát hiện Lê Duy Anh L có biểu hiện nghi vấn nên Tổ công tác tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải L đang mặc có 01 gói giấy nhỏ, bên trong có túi nilong màu trắng chứa 39 viên nén màu đỏ. L khai nhận với Tổ công tác các viên nén này là ma túy loại hồng phiến, L cất giấu để bán kiếm lời khi có người hỏi mua. Sau đó Tổ công tác đưa L về trụ sở Công an phường Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong 39 viên nén màu đỏ thu giữ của Lê Duy Anh L trong phong bì do Công an phường Đ phát hành.
Quá trình điều tra, L khai nhận do cần tiền nên L nảy sinh ý định bán ma túy kiếm lời nên tối ngày 26/9/2024 L sử dụng điện thoại Iphone 14 Pro lắp sim số 0943312323 gọi vào số điện thoại 0943.126.xxx của Nguyễn Duy T để nhờ T tìm mua hộ cho L hồng phiến với số tiền 3.500.000đ thì T đồng ý. T yêu cầu L chuyển khoản trước tiền mua hồng phiến cho T vào số tài khoản 3330134565555 Ngân hàng M1 chuyển số tiền 3.500.000đ cho T. Sau đó T hẹn L đến ngõ G T, phường N, thành phố T để lấy hồng phiến. T đưa cho L 1 phong bì bên trong có gói giấy bạc chứa 39 viên ma túy loại hồng phiến. L mang 39 viên hồng phiến trên về nhà ở P, Tòa nhà A, Chung cư C, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa cất giấu nhằm bán kiếm lời. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/9/2024 L lấy 39 viên hồng phiến cất giấu trong túi quần nhằm đem bán cho người khác. Khi L vừa đi ra sảnh hàng lang tầng 6 tòa A1 Chung cư C thì bị Tổ công tác bắt quả tang thu giữ 39 viên hồng phiến.
Đến 10 giờ 10 phút ngày 29/9/2024 nghe tin Lê Duy Anh L bị Công an thành phố T bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, biết việc mình mua hộ 39 viên hồng phiến cho L bán không thể che giấu được nên Nguyễn Duy T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú về hành vi của mình. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, T khai nhận tối ngày 26/9/2024 khi T đang ở nhà thì L gọi điện thoại cho T nhờ T mua hộ 3.500.000đ tiền hồng phiến để L bán, T đồng ý mua giúp L. Sau đó T đến khu vực bờ sông gần chung cư R phường L thành phố T gặp một người đàn ông tên T1 (G) và mua hồng phiến của người này với số tiền 3.500.000đ. Sau khi mua được hồng phiến thì T liên hệ với L đến ngõ G T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa để đưa hồng phiến cho L.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Duy Anh L ở P, Tòa nhà A, Chung cư C, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa Cơ quan CSĐT Công an thành phố T không thu giữ được gì. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Duy T ở Số C N, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T thu giữ 01 chiếc điện thoại Nokia gắn sim số 0339995066 và 0943216686 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A1 gắn sim số 0327177756 mà T dùng để liên lạc và giao dịch ma túy với L.
Quá trình điều tra còn xác định chiều tối ngày 21/9/2024 thông qua mạng xã hội Telegram, Hoàng Xuân H1 sinh năm 1994 trú tại số nhà F Q, phường Đ, thành phố T hỏi mua của Lê Duy Anh L 04 viên ma túy loại hồng phiến với giá 480.000đ, L yêu cầu chuyển khoản tiền qua tài khoản Ngân hàng cho L trước. Sau khi nhận được tiền, L cầm 04 viên hồng phiến đặt ở ô của sổ lan can tầng 3 tòa A1 Chung cư C phường Đ thành phố T rồi thoogn báo cho H1 đến lấy hồng phiến. Theo chỉ dẫn của L, hải đến lấy 04 viên hồng phiến rồi mang đi cất giấu ở bãi đất trống đối diện khách sạn M2 ở phường Đ, thành phố T. Sau đó H1 đã một mình sử dụng hết 04 viên hồng phiến. Về nguồn gốc: Lê Duy Anh L khai nhận chiều tối ngày 21/9/2024 L đến ngõ G T phường N thành phố T và đưa 400.000 đ cho Nguyễn Duy T để mua 04 viên hồng phiến.
Tại Bản kết luận giám định số 3651/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “39 viên nén màu đỏ trong phong bì niêm phong gửi đi giám định là ma túy có khối lượng 3.869gam loại Methamphetamine"
Về vật chứng vụ án: Đối với số ma túy còn lại sau giám định niêm phong trong phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành; chiếc điện thoại Iphone 14 Pro lắp sim số 0943312323 của Lê Duy Anh L; chiếc điện thoại Redmi A1 gắn sim số 0327177756 và chiếc điện thoại N2 gắn sim số 0339995066 và 0943216686 của Nguyễn Duy T Cơ quan điều tra thu giữ đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa.
Cáo trạng số 40/CT-VKSTPTH ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân thành phố Thanh Hóa truy tố các bị cáo Lê Duy Anh Linh và Nguyễn Duy Trường về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251của Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa,
Các bị cáo Lê Duy Anh L và Nguyễn Duy T đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nêu trên, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Lê Duy Anh L và Nguyễn Duy T. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, (riêng đối với T thêm khoản 2) Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo:
- Bị cáo Lê Duy Anh L từ 05 năm 06 tháng đến 05 năm 09 tháng tù.
- Bị cáo Nguyễn Duy T từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong. Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại Iphone 14 Pro lắp sim số 0943312323 của Lê Duy Anh L; chiếc điện thoại Redmi A1 gắn sim số 0327177756 và chiếc điện thoại N2 gắn sim số 0339995066 và 0943216686của Nguyễn Duy T.
Truy thu xung quỹ 480.000đ số tiền L đã bán ma túy cho Hoàng Xuân H1 ngày 21/9/2024
Về án phí: Đề nghị áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14; buộc các bị cáo Lê Duy Anh L và Nguyễn Duy T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo luật định
Các bị cáo Lê Duy Anh L và Nguyễn Duy T không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo được sớm trở về với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, các bị cáo Lê Duy Anh L và Nguyễn Duy T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo thống nhất với lời khai của người chứng kiến về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào 16 giờ 30 phút ngày 27/9/2024 tại sảnh hành lang tầng 6 tòa nhà A chung cư C thuộc phường Đ, thành phố T, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã bắt quả tang Lê Duy Anh L đang cất giấu trong người 39 viên hồng phiến có khối lượng 3,869g lại Methaphetamine với mục đích để bán kiếm lời. Ngoài ra vào chiềuu tối ngày 21/9/2024 tại Tầng C tòa nhà A, chung cư C ở phường Đ, thành phố T, L đã bán trái phép 04 viên hồng hiến cho Hoàng Xuân H1 để lấy 480.000đ.
Đối với Nguyễn Duy T vào tối ngày 26/9/2024, biết rõ Lê Duy Anh L muốn mua ma túy về bán kiếm lời và đã đồng ý, T nhận từ L 3.500.000đ để đi mua hộ cho L 39 viên hồng phiến tại khu vực bờ sông gần CC R ở phường L, thành phố T và đã giao lại cho L.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố các bị cáo Lê Duy Anh L và Nguyễn Duy T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm, hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của các bị cáo Lê Duy Anh L và Nguyễn Duy T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, dẫn đến ảnh hưởng sức khỏe của con người, cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bản thân các bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về hành vi phạm tội của mình bị cáo L 01 lần, bị cáo T 04 lần bị xét xử đều đã được xóa án tích nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân thành người có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục phạm tôi. Do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo T đã ra đầu thú, bị bố được tặng thưởng Huân huy chương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
[5] Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm có tính giản đơn, các bị cáo không có sự phân công, phối hợp chặt chẽ. Tuy nhiên L là người thực hiện việc mua bán ma túy để kiếm lời, vào ngày 21/9/2024 L đã bán cho Hoàng Xuân H1 04 viên hồng phiến với giá 480.000đ, đến ngày 26/9/2024 L tiếp tục muốn bán ma túy nên đã nhờ T mua hộ ma túy để L đem bán, do vậy L xếp vai trò cao hơn T.
[6] Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 480.000₫ L nhận được từ Hoàng Xuân H1 vào ngày 21/9/2024 là có được do bán ma túy mà có nên cần tịch thu xung quỹ Nhà nước.
[7] Về vật chứng: Ma túy là chất cấm tự do lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói.
Chiếc điện thoại Iphone 14 Pro lắp sim số 0943312323 của Lê Duy Anh L; chiếc điện thoại Redmi A1 gắn sim số 0327177756 và chiếc điện thoại N2 gắn sim số 0339995066 và 0943216686của Nguyễn Duy T dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu xung quỹ nhà nước.
[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, chưa bán được ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
[9] Về các vấn đề khác:
- - Đối với số tiền 480.000₫ L bán ma túy cho H1 ngày 21/9/2024 là tiền do phạm tội mà có là tiền thu lời bất chính nên cần truy thu của Lê Duy Anh L để xung công quỹ Nhà nước.
- - Đối với Hoàng Xuân H1 đã có hành vi mua 04 viên hồng phiến của Lê Duy Anh L mục đích để sử dụng, H1 đã sử dụng hết. Vì vậy không có căn cứ để xử lý Hoàng Xuân H1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan Công an thành phố Thanh Hóa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Hoàng Xuân H1 là phù hợp
- - Đối với người đàn ông tên T1 gái bán 39 viên hồng phiến cho T ở gần khu vực bờ sông gần chung cư R ở phường L, thành phố T vào tối ngày 26/9/2024. Ngoài lời khai của T không còn tài liệu nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để xác minh, xử lý đối tượng này theo quy định.
- - Về nguồn gốc 04 viên hồng phiến Lê Duy Anh L bán cho Hoàng Xuân H1 ngày 21/9/2024, theo lời khai của L thì 04 viên hồng phiến là do L mua của T mà có. T không thừa nhận việc đã bán ma túy cho L vào ngày 21/9/2024. Do lời khai của L và T mâu thuẫn nhau nên ngày 06/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thực hiện việc đối chất giữa L và T. Tuy nhiên T vẫn giữ nguyên lời khai của mình phủ nhận lời khai của L. T khẳng định chỉ mua hộ ma túy giúp L bán cho người khác vào ngày 26/9/2024, ngoài ra T không đưa, không bán ma túy cho L thêm lần nào khác, lời khai của L về T là hoàn toàn không đúng sự thật. Xét thấy ngoài lời khai của L thì không còn tài liệu khác chứng minh việc T đã bán ma túy cho L nên không có cơ sở để xử lý hình sự đối với Nguyễn Duy T.
[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 (riêng đối với T thêm khoản 2) Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 47; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Duy Anh L và Nguyễn Duy T phạm tội : “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
- - Bị cáo Lê Duy Anh L 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/9/2024.
- - Bị cáo Nguyễn Duy T 05 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2024
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu của Lê Duy Anh L số tiền 480.000₫ sung vào Ngân sách nhà nước.
Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong một phong bì niêm phong do Phòng K Công an tỉnh T có hình dấu của Phòng K, kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, Trịnh Thị Thu H2
- - Tịch thu xung quỹ nhà nước: Chiếc điện thoại Iphone 14 Pro màu đen, bị khóa Icloud thu giữ của Lê Duy Anh L; chiếc điện thoại Redmi A1 màu xanh có gắn sim và chiếc điện thoại Nokia, màu xanh dạng bàn phím Model TA-1174 gắn sim thu giữ của Nguyễn Duy T
Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 51/2025/THA ngày 21/01/2025.
Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Duy Anh L và Nguyễn Duy T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Khánh Tân |
Bản án số 157/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 157/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Duy Anh L và Nguyễn Duy T mua bán trái phép CMT
