|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 157/2025/HS-PT
Ngày: 05/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Hạnh |
| Bà Trần Thị Thanh Thảo | |
| Thư ký phiên toà: | Bà Nguyễn Ánh Tuyết - Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lý Thị Mai Phương - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1026/2025/HSPT ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Văn Q và Phạm Xuân T do có kháng cáo của 2 bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 127/2024/HSST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Bùi Văn Q, sinh năm 1988 tại tỉnh Hoà Bình; Đăng ký HKTT: Cặm Cõ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hòa Bình; Chỗ ở trước khi phạm tội: Cặm Cõ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bùi Trung D; Con bà: Bạch Thị N; Vợ: Không; có 01 con sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 31/7/2024, bị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 193/QĐ-XPHC về hành vi Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 10/3/2024 tại thôn Y, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội; Phạt tiền: 2.500.000 đồng.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2024. Hiện đang Tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H. (Có mặt tại phiên toà).
- Phạm Xuân T, sinh năm 1985 tại tỉnh Thái Bình; Đăng ký HKTT: thôn Đ, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở: thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phạm Xuân T1; Con bà: Nguyễn Thị N1; Vợ: Hoàng Thị L; có 02 con: lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 31/7/2024, bị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 195/QĐ-XPHC về hành vi Mua tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có xảy ra ngày 10/3/2024 tại thôn Y, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội; Phạt tiền: 4.000.000 đồng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/4/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt tại phiên tòa).
* Ngoài ra, còn có bị cáo Nguyễn Mạnh T2 không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
* Các bị hại không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa:
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn Q (sinh năm 1988; trú tại thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Hòa Bình) là đối tượng sống lang thang, không có nơi ở cố định. Từ ngày 26/02/2023, Q nảy sinh ý định đột nhập vào nhà người dân trên địa bàn huyện C, TP Hà Nội để trộm cắp tài sản là điện thoại di động, tiền. Với thủ đoạn quan sát nhà dân trên địa bàn rồi ẩn nấp tại cánh đồng vắng, khu nghĩa trang, chờ đến khoảng 00 giờ đến 05 giờ thì đột nhập vào nhà người dân trộm cắp tài sản rồi tẩu thoát.
Đến tối ngày 07/9/2023, Q thuê Nguyễn Mạnh T2 (sinh năm 1979; trú tại Số C, tổ D, TDP H, phường M, quận H, Hà Nội - làm nghề lái xe ôm công nghệ) chở Q đi vào huyện C, rồi hẹn chờ Q gọi điện thì đến đón chở về nhà nghỉ M1 có địa chỉ tại Y, phường P, H, Hà Nội, công chở là 300.000đồng/1 lần. Q có nói với T2 là Q đi trộm cắp tài sản, nhờ T2 đưa đón và bán hộ tài sản trộm cắp được.
Bằng hình thức trên, từ ngày 26/02/2023 đến ngày 26/3/2024, Q đã thực hiện 08 vụ trộm cắp tài sản, Cướp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện C, Hà Nội; Nguyễn Mạnh T2 giúp sức thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản, 01 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Phạm Xuân T tuy không hứa hẹn nhưng biết là tài sản trộm cắp nhưng vẫn thực hiện 07 lần tiêu thụ tài sản trộm cắp của Q. Cụ thể như sau:
* Vụ thứ nhất:
Khoảng 00 giờ 00 phút, ngày 26/2/2023, Bùi Văn Q từ nhà nghỉ M1 bắt xe taxi đến khu vực thôn L, xã P, huyện C, Hà Nội rồi xuống xe đi bộ vào khu vực dân cư thì phát hiện nhà ở của chị Vương Thị T3 (sinh năm 1991; trú tại thôn L, xã P, huyện C, TP Hà Nội) không đóng cửa ban công tầng 2. Q đã trèo vào sân đi lên cầu thang của nhà đối diện nhà chị T3 rồi theo đường lan can trèo sang hành lang tầng 2 nhà chị T3. Sau khi mở cửa ban công tầng 2, Q đi xuống phòng khách ở tầng 1 để quan sát trộm cắp tài sản. Quá trình tìm kiếm tài sản, Q chùm áo lên đầu rồi lục lọi trong phòng khách đã lấy trộm được 01 chiếc điện thoại Iphone XSMax màu trắng 32G và 02 lợn đất tiết kiệm (01 lợn đất màu vàng, 01 lợn đất màu đỏ, bên trong 02 con lợn đất có 1.000.000 đồng). Sau khi lấy được tài sản, Q mang 02 con lợn ra bãi đất trống để đập vỡ lấy tiền rồi đi bộ ra đường Q, bắt taxi đi về nhà nghỉ M1. Đến sáng, Q mang chiếc điện thoại ra khu vực B - H bán cho cửa hàng điện thoại của T với giá 2.000.000 đồng và sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Chị Vương Thị T3 khai nhận các tài sản bị mất trộm gồm:
- 01 điện thoại di động Iphone XSMax màu trắng 32G, mua mới năm 2018 máy cũ đã qua sử dụng;
- 02 con lợn đất ( trong đó có: 01 lợn đất màu đỏ kích thước (30x20x15) cm; 01 lợn đất màu vàng kích thước (30x20x15) cm. (Trong 02 con lợn đất có khoảng 05 triệu đồng).
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐĐG ngày 16/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:
“ Giá trị của tài sản cần định giá tại thời điểm ngày 26/02/2023:
- 01 điện thoại di động Iphone XSMax màu trắng 32G, mua mới năm 2018, có giá là: 9.000.000 đồng.
- 01 lợn đất màu đỏ kích thước (30x20x15)cm có giá trị là: 55.000 đồng.
- 01 lợn đất màu vàng kích thước (30x20x15)cm, có giá trị là: 55.000 đồng”
Tổng giá trị tài sản bị mất trộm là 9.110.000 đồng.
* Vụ thứ hai:
Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 04/3/2023, Q đi taxi đến khu vực thị trấn C, huyện C, Hà Nội thì thấy nhà anh Nguyễn Văn K (sinh năm 1985; trú tại TDP N, thị trấn C, huyện C, Hà Nội) có cửa sổ phòng bếp mở, không đóng. Thấy vậy Q trèo tường vào đột nhập vào nhà theo lối cửa sổ phòng bếp lục soát, tìm kiếm lấy trộm được 02 chiếc điện thoại di động gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung ZFold 2 màu đồng dung lượng 256G, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Note 10 Plus màu đen dung lượng 128G ở trong phòng ngủ gần giường ngủ của anh K. Sau khi lấy được tài sản, Q rời đi ra khỏi khu vực nhà anh K men theo đường cánh đồng. Khoảng 01 giờ sau Q đi ra đường Q, bắt taxi về nhà nghỉ M1. Đến sáng, Q mang 02 chiếc điện thoại này ra khu vực B - H bán cho cửa hàng điện thoại “DHS” của T được số tiền 2.500.000 đồng.
Anh Nguyễn Văn K khai nhận các tài sản bị mất trộm gồm:
- 02 (hai) chiếc điện thoại di động ( trong đó có: 01 (một) chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung ZFold 2 màu đồng dung lượng 256G, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung Note 10 Plus màu đen dung lượng 128G).
- Số tiền 48.000.000 đồng.
Q khai nhận chỉ lấy 02 điện thoại, hoàn toàn không lấy tiền mặt.
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐG ngày 03/04/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:
“ - 01 điện thoại di động Samsung Fold 2, màu đồng, dung lượng 256GB, sản xuất năm 2021, máy đã qua sử dụng. Tại thời điểm tháng 3/2023 có giá trị là: 10.000.000đ.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Note 10 Plus, màu đen xám, dung lượng 128GB, sản xuất năm 2020, máy đã qua sử dụng. Tại thời điểm tháng 3/2023 có giá trị là: 8.000.000đ.
- 02 sim số 0986883xxx, 0981186xxx. Tại thời điểm tháng 3/2023 có giá trị là: 100.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản mất trộm là 18.100.000 đồng.
* Vụ thứ ba:
Khoảng 00 giờ ngày 07/9/2023, Q có gọi điện bảo Nguyễn Mạnh T2 đến đón Q ở nhà nghỉ M1. Sau đó, cả hai đi đến vòng xuyến T - H ngồi quán trà đá khoảng 10 phút thì Q nói với T2: Chở Q về Trường Đại học T15. Khi đến nơi Q đi bộ tìm kiếm các hộ gia đình sơ hở. Khi thấy gia đình chị Lữ Thị H (sinh năm 1984; trú tại thôn P, xã P, huyện C, TP Hà Nội) quan sát phát hiện cửa ban công tầng 2 của gia đình chị H mở nên Q đã trèo tường lên tầng 2 của gia đình chị H. Q mở ban công tầng 2 đột nhập vào nhà lục lọi lấy trộm được 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung A4 màu đen và 01 lợn nhựa màu đỏ. Sau khi lấy được tài sản Q tiếp tục trèo qua tường tầng 2 tẩu thoát. Q cắt lợn nhựa lấy tiền bên trong có tổng số tiền là khoảng 1.000.000 đồng sau đó vứt lợn nhựa tại bãi đất trống cạnh nhà chị H rồi thoát theo đường đột nhập, đi về theo hướng cũ. Đến khoảng 5 giờ 00 phút cùng ngày, Q gọi điện thoại cho T2 đến đón và dặn T2 khi trời sáng hẳn thì đến nhà nghỉ M1 đón Q để đi bán 01 điện thoại Samsung. T2 có hỏi Quang điện T4 lấy ở đâu, Q nói với T2 điện thoại trộm cắp được và thoả thuận mỗi lần T2 trở đi đón về sẽ trả công Trường 300.000 đồng/1 lượt. Đến sáng cùng ngày, T2 đến nhà nghỉ đón Q và cả hai mang 01 chiếc điện thoại trộm cắp được đến cửa hàng Trọng bán được 1.200.000 đồng, Q cho T2 300.000 đồng.
Chị Lữ Thị H khai nhận tài sản bị mất trộm gồm:
- 01 điện thoại di động Samsung A4 màu đen,
- 01 lợn nhựa tiết kiệm, số tiền 1.000.000 đồng.
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 105/KL-HĐĐG ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:
- 01 điện thoại di động Samsung A4 màu đen, dung lượng 32GB, mua mới năm 2019. Tại thời điểm tháng 9/2023 có giá trị là 1.000.000 đồng.
- 01 lợn nhựa màu đỏ kích thước (30x20x15) cm. Tại thời điểm tháng 9/2023 có giá trị là: 25.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị mất trộm là 2.025.000 đồng.
* Vụ thứ tư:
Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 26/9/2023, Q gọi điện bảo Nguyễn Mạnh T2 đến đón Q ở nhà nghỉ M1. Sau đó, T2 điều khiển xe máy đưa Q đến khu vực trường Đại học T15. Tại đây Q đưa giầy, ví tiền của Q cho T2 cầm, Q bảo T2 đón vào sáng sớm rồi đi bộ theo đường nghĩa trang cởi quần ngoài, mặc quần đùi dạng quần lót nam, chùm áo lên đầu đi vào đường thôn L, xã P để quan sát xem có gia đình nào không khóa cửa thì đột nhập vào lấy trộm tài sản. Khi đi đến nhà ở của chị Nguyễn Thu T5 (sinh năm 2005) tại thôn L, xã P, huyện C, Hà Nội thì Q nhìn thấy nhà không khóa cửa nên trèo qua cổng, đột nhập vào sân rồi tiếp tục đột nhập vào trong nhà lục soát, tìm kiếm ở trong phòng khách, phòng bếp nhưng không có tài sản gì. Q cầm 01 con dao ở khu vực bếp đi lên khu vực phòng ngủ của chị Trang mục Đ sử dụng dao cạy cửa phòng ngủ nhưng cửa phòng ngủ không khóa. Q đi vào trong phòng ngủ lục soát thấy 01 chiếc ví ở bàn nhựa phía chân giường, Q mở ví vơ tất cả giấy tờ cất vào túi áo rồi đến khu vực đầu giường thì phát hiện chị T5 đang đắp chăn nằm ngủ. Sau đó, Q thò tay vào bên trong chăn mục đích để tìm kiếm tài sản thì sờ trúng vào người chị T5 rồi lấy 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Note 10 plus. Cùng thời điểm này thì T5 tỉnh giấc, Q cầm dao hướng về phía chị T5 và đe dọa: “im mồm, không được hét, mày muốn chết không tao lấy dao đấy”, chị T5 sợ không dám kêu và để Q lấy tài sản rồi vứt dao tại sân, trèo tường ra ngoài đường bỏ chạy thoát. Trên đường đi, Q kiểm tra tài sản lấy được trong ví tiền thì xác định không có tài sản gì mà chỉ có 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thu T5. Q vứt căn cước công dân của chị T5 ở dọc đường. Sau đó, Q gọi điện thoại cho T2 đến đón về nhà nghỉ M1. Đến chiều cùng ngày, T2 đến nhà nghỉ M1 đón Q. Sau đó cả hai mang chiếc điện thoại trộm cắp được đến cửa hàng mua bán điện thoại của T để bán điện thoại di động nhưng do chiếc điện thoại có cài đặt mật khẩu nên chỉ bán được 1.700.000 đồng. Q chia cho T2 300.000 đồng.
Chị Nguyễn Thu T5 khai nhận các tài sản bị mất trộm gồm:
- 01 điện thoại di động động S1 10 Plus + màu đen 256G, gắn sim số: 0325501359, có bao da Clear View Note mua mới năm 2020
- 01 thẻ căn cước công dân gắn chíp mang tên Nguyễn Thị Thu T5.
- Số tiền 8.000.000 đồng (Theo lời khai của chị Nguyễn Thị Thu T5).
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 153a/KL-HĐĐG ngày 10/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận:
“ - 01 điện thoại đi động S1 10Plus+ màu đen 256G mua mới năm 2020. Thời điểm tháng 9/2023 có giá trị là: 8.500.000đ.
- 01 bao da Clear View N Plus B. Thời điểm tháng 9/2023 có giá trị là: 100.000đ.
- 01 phôi sim nano V số: 0325501xxx. Thời điểm tháng 9/2023 có giá trị là: 50.000đ.
- 01 căn cước công dân gắn chíp. Hội đồng không xác định được giá trị.
Tổng cộng: (8.500.000đ + 100.000đ + 50.000đ) = 8.650.000đồng
Số tiền bằng chữ: (T6 triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng)”
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 8.650.000 đồng
* Vụ thứ năm:
Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 26/10/2023, T2 điều khiển xe máy chở Q đến khu vực xã Đ, huyện C, Hà Nội. Sau đó, Q đột nhập vào nhà anh Phạm Văn T7 (sinh năm 1990; trú tại thôn Y, xã Đ, huyện C, Hà Nội) và lấy trộm tài sản ở phòng ngủ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S21 FE rồi đi về nhà nghỉ M1. Khi về đến nhà nghỉ, Q mở được mật khẩu điện thoại và mật khẩu ngân hàng có số tài khoản: 1903.7471.7540.15 thuộc ngân hàng T16 của anh T7. Sau đó, Q mạo danh anh T7 nhắn tin cho một số bạn và người thân của anh T7 vay tiền để những người này chuyển tiền vào tài khoản thì Q chiếm đoạt. Những người bị Q mạo danh anh T7 nhắn tin vay tiền gồm:
- Chị Nguyễn Thị Thanh N2 (sinh năm 1981; trú tại thôn B, xã Q, huyện C, Hà Nội; là học viên học lái xe của anh T7) đã chuyển từ tài khoản NGUYEN THI THANH NGA thuộc Ngân hàng V1 vào tài khoản của anh T7 gồm 02 lần với tổng số tiền là 5.000.000 đồng.
- Chị Nguyễn Thị Ngọc H1 (sinh năm 1982; trú tại thôn X, xã T, huyện C, Hà Nội; là học viên học lái xe của anh T7) đã chuyển tiền từ tài khoản NGUYEN THI NGOC HA thuộc Ngân hàng M2 vào tài khoản của anh T7 01 lần với số tiền là 2.000.000 đồng.
- Anh Trần Việt A (sinh năm 1995; trú tại P, B, phường T, quận H, Hà Nội; là học viên học lái xe của anh T7) chuyển từ tài khoản TRAN VIET ANH thuộc Ngân hàng B vào tài khoản của anh T7 01 lần với số tiền 5.000.000 đồng.
- Chị Nguyễn Thị Thúy N3 (sinh năm 1990; trú tại Số A, Ngõ E, L, xã T, huyện S, Hà Nội; là học viên học lái xe của anh T7) chuyển tiền từ tài khoản NGUYEN THI THUY NGA thuộc Ngân hàng V2 vào tài khoản của anh T7 01 lần với số tiền 2.000.000 đồng.
- Anh Lưu Hữu T8 (sinh năm 1987; trú tại thôn T, xã T, huyện C, Hà Nội) là bạn của anh T7 chuyển tiền từ tài khoản LUU HUU TINH thuộc Ngân hàng V3 vào tài khoản của anh T7 01 lần với số tiền 2.000.000 đồng.
- Chị Đỗ Yến N4 (sinh năm 1986; Trú tại thôn Y, xã Đ, huyện C, Hà Nội; là dì ruột của anh T7) chuyển tiền từ tài khoản DI NHI thuộc Ngân hàng Á vào tài khoản của anh T7 01 lần với số tiền 2.000.000 đồng.
Đến khoảng 09 giờ sáng cùng ngày, Q gọi điện cho T2 và nói với T2: “Điện thoại ăn trộm được tối hôm qua không có mật khẩu, vừa câu được bạn nó chuyển tiền, anh đi tìm người có tài khoản, báo về cho em để bạn chủ máy chuyển tiền, anh rút mang về đây cho em”. Sau đó, T2 đến cửa hàng mua bán điện thoại đi động Tùng M tại số F, P, T, N, Hà Nội do anh Đỗ Trung T9 (sinh năm 1985; trú tại thôn A, xã P, huyện M, Hà Nội) làm chủ để rút tiền mặt. Tại đây T2 xin số tài khoản của chủ cửa hàng điện thoại rồi gọi điện báo lại thông tin số tài khoản cho Q. Sau đó Q sử dụng điện thoại và tài khoản ngân hàng của anh T7 chuyển số tiền 11.000.000 đồng vào tài khoản của anh Đỗ Trung T9 (có số bút toán là FT32299303349102\BKS). Sau khi anh T9 nhận được tiền tài khoản đã đưa cho T2 11.000.000 đồng tiền mặt, T2 mang về nhà nghỉ đưa cho Q. Sau đó, Q chia cho T2 2.500.000 đồng, còn Q hưởng lợi 8.500.000 đồng. Chiếc điện thoại lấy trộm được, Q đã đưa T2 mang đến cửa hàng của T để bán được số tiền 500.000 đồng. Số tiền này T2 trả lại cho Q. Tổng số tiền mà Q lừa đảo chiếm đoạt là 18.000.000 đồng.
Anh Phạm Văn T7 khai nhận tài sản bị mất trộm gồm:
- 01 điện thoại di động Samsung S21 FE màu xám 128 GB;
- Số tiền Q dùng thủ đoạn giả danh anh T7 để chiếm đoạt là 18.000.000 đồng.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 106/KL-HĐĐG ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận:
“ - 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S21 FE màu xám 128 G, mua mới 02/2023. Tại thời điểm tháng 10/2023 có giá trị là: 6.000.000đồng (Sáu triệu đồng).
- 01 phôi sim nano của số điện thoại 0986.908.xxx. Tại thời điểm tháng 10/2023 chi phí làm mới là: 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng).
- 01 phôi sim nano của số điện thoại 0329.432.xxx. Tại thời điểm tháng 10/2023 chi phí làm mới là: 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản bị mất trộm là 6.100.000 đồng.
* Vụ thứ sáu:
Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 12/11/2023, T2 chở Q đến khu vực xã T, C, Hà Nội để lấy trộm tài sản, khi gần đến nơi, Q cởi quần ngoài, mặc quần đùi dạng quần lót nam, Q đột nhập vào nhà chị Nguyễn Thị T10 (sinh năm 1989; trú tại thôn T, xã T, huyện C, Hà Nội) theo lối cửa sau. Sau khi lục lọi trong nhà chị T5, Q lấy trộm được 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Z Flip 4 màu tím nắp gập cũ, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh. Sau khi trộm cắp được thì T2 lại đưa Q về nhà nghỉ M1. Đến sáng cùng ngày, Q đem chiếc điện thoại di động vừa trộm cắp trên đến cửa hàng điện thoại của T bán được 3.100.000 đồng. Q chia cho T2 350.000 đồng tiền công chở đi.
Chị Nguyễn Thị T10 khai nhận tài sản bị mất trộm gồm: 01 điện thoại di động S2 4, màu tím nắp gập cũ, 01 điện thoại OPPO cũ màu xanh.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 74/KL-HĐĐG ngày 16/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận:
“ - 01 điện thoại di động S3 Flip 4 màu tím, mua mới tháng 2/2023 với giá 18.500.000đồng tại thời điểm ngày 12/11/2023 có giá trị là 12.000.000 đồng.
- 01 điện thoại di động Oppo vỏ màu xanh dương, mua mới năm 2021 với giá 3.000.000 đồng (máy cũ đã qua sử dụng), có giá trị là: 1.500.000đồng (Một triệu, năm trăm nghìn đồng).
- 01 phôi sim của số điện thoại 0348.926.xxx, có giá trị là: 50.000đồng (Năm mươi nghìn đồng).
- 01 phôi sim của số điện thoại số 0966.095.xxx: 50.000đồng (Năm mươi nghìn đồng).”.
Tổng giá trị tài sản bị mất trộm là 13.600.000 đồng.
* Vụ thứ bảy:
Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 22/3/2024, T2 chở Q đến khu vực chùa C thuộc thôn P, xã P, huyện C, Hà Nội. Khi đi đến nhà 03 tầng có cầu thang đi lên phía trước cửa nhà, trước khi lên, Q vào khu vực cầu thang và nhặt 01 con dao rồi đi lên cửa nhà định cạy cửa nhưng không cạy được nên đã đi xuống khu vực cầu thang. Q cất dao, cởi quần dài, mặc quần đùi dạng sịp men theo tường rào đột nhập vào sân nhà bên cạnh nhưng cửa nhà khóa chặt nên Q không lấy được tài sản gì và tiếp tục trèo ra ngoài. Q đứng nấp ở vị trí cầu thang của nhà đầu tiên mặc quần dài rồi đi theo đường thôn, hướng về chùa C cách khoảng 70m thì phát hiện nhà anh Bùi Thanh T11 (sinh năm 2004; trú tại thôn P, xã P, huyện C, Hà Nội) không khóa phòng ngủ nên Q trèo tường đột nhập vào sân. Lúc này, Q đã đi vào bếp nhặt 01 con dao, chặt 01 cán chổi cầm theo để khều 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gồm 01 điện thoại Iphone 14 Pro max màu đen và 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen rồi đi ra sân vứt cán chổi và trèo ra ngoài men theo đường chùa C ra khu vực nghĩa trang đi theo đường cánh đồng đi ra đường Q. Sau đó, T2 đón Q về nhà nghỉ M1. Đến sáng cùng ngày, Q mang 02 chiếc điện thoại trên đến cửa hàng điện thoại của T, do cả 02 điện thoại đều có mật khẩu nên Q chỉ bán được số tiền 6.000.000 đồng. Sau đó, Q về nhà nghỉ M1 rồi chia cho T2 là 400.000 đồng.
Anh Bùi Thanh T11 khai nhận tài sản bị mất trộm gồm:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu đen dung lượng 128GB (đã qua sử dụng) mua mới ngày 18/02/2024.
- 01 sim số “0968434xxx".
- 01 ốp lưng điện thoại Iphone 14 Promax silicon màu trắng có ghi chữ “MATIN KIM” ở giữa ốp.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen dung lượng 32GB không lắp sim mua mới tháng 9/2019.
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 56/KL-HĐĐG ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận:
“ - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu đen dung lượng 128GB (đã qua sử dụng). Tại thời điểm bị mất trộm có giá trị là: 18.000.000đ.
- 01 sim số 0968434xxx. Tại thời điểm bị mất trộm có giá trị là: 300.000 đồng
- 01 ốp lưng điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax silicon màu trắng có ghi chữ “MATIN KIM” ở giữa ốp. Tại thời điểm bị mất trộm có giá là: 200.000đ.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen dung lượng 32GB không lắp sim (đã qua sử dụng). Tại thời điểm bị mất trộm có giá trị là: 2.500.000đ.
Tổng cộng: (18.000.000đ + 300.000₫ + 200.000đ + 2.500.000₫) = 21.000.000đồng”.
Tổng giá trị tài sản bị mất trộm là: 21.000.000 đồng.
* Vụ thứ 8:
Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 26/3/2024, Q gọi điện thoại cho Nguyễn Mạnh T2 đón mình tại nhà nghỉ. Sau đó, T2 đến đón Q, cả hai đi theo cung đường: Đường B hướng về UBND phường P, hướng ra đường P, hướng ra đường Q, hướng ra đường B, hướng ra đường V, đi hường đường T hướng về khu đô thị Đ. Khi đi đến vòng xuyến, cả hai vào ngồi uống nước chè ở lề đường thuộc phường L, H, Hà Nội. Đến khoảng 00 giờ 00 phút, ngày 27/3/2024, Q nói với T2: “anh chở em đi đến địa điểm này”, sau đó T2 điều khiển xe máy chở Q đi, khi đi qua cổng chào hướng về UBND xã Đ thì rẽ vào cánh đồng, Q nhìn thấy có khu vực nhà người dân. Sau khi quan sát, Q bảo Trường quay ngược lại ra gần Quốc lộ F, rẽ phải vào khu vực cổng trường rồi dừng xe, Q cởi giầy đưa cho T2 rồi đi bộ vào khu nghĩa trang, men vào khu vực người dân giữa cánh đồng. Q cởi toàn bộ quần áo, chỉ mặc mỗi quần đùi dạng sịp đi vào trong làng. Khi Q đi đến nhà anh Nguyễn Văn L1 (sinh năm 1975; trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện C, Hà Nội), Q nhìn thấy cửa phòng khách mở nên đã trèo tường vào đi đến khu vực phòng khách và nhìn thấy trên bàn uống nước có 01 con lợn đất màu đỏ tiết kiệm nên Q đã lấy trộm, bê con lợn đất trèo tường ra ngoài rồi mang con lợn đất đến khu vực vườn bưởi gần vị trí Q giấu quần áo, đập lợn đất, kiểm tra bên trong được khoảng 5.000.000 đồng. Q mặc cất giấu tiền ở trong túi quần trước bên trái, áo vắt trên vai đi.
Trên đường đi men theo đường làng thì phát hiện ra nhà của anh Nguyễn Văn  (sinh năm 1988; trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện C, Hà Nội) không có cửa cổng nên Q đi vào bên trong thì thấy 01 chiếc điện thoại di động, Q lấy điện thoại cất giấu ở túi quần trước bên phải, khi đi ra, Q phát hiện 01 con lợn đất nên Q đã lấy trộm. Q bê con lợn đất đi ra khu vực vườn rau, đập lợn đất nhưng bên trong lợn đất không có tài sản gì.
Q tiếp tục đi men theo đường làng, Q nhìn thấy 01 nhà có sân sáng điện nên Q nhảy qua tường bao vào bên trong, Q ngó đầu vào cửa sổ không đóng để tìm kiếm tài sản thì bị chủ nhà phát hiện, hô hoán nên Q chạy ra ngoài, nhảy qua tường bao chạy về hướng vườn bưởi, rồi đi về nghĩa trang L2. Sau đó, Q gọi điện thoại cho T2 để đến đón Q. Q đi theo đường mòn lên đường liên xã thì gặp T2 đến đón. T2 thả Q trước ngõ vào nhà nghỉ M1 còn T2 về nhà trọ của T2. Đến khoảng 9 giờ 00 phút, ngày 27/3/2024, Q gọi điện thoại cho T2 và nhờ T2 lấy điện thoại Samsung A12 màu xanh (là điện thoại Q trộm cắp được vào ngày 27/3/2024 mà có) mang lên cửa hàng của T ở B được 700.000 đồng. Sau khi bán được điện thoại, T2 đưa cho Q 700.000 đồng, Q chia cho T2 400.000 đồng.
* Anh Nguyễn Văn L1 khai nhận tài sản bị mất trộm gồm: 01 con lợn đất màu đỏ kích thước khoảng (40x30x30) cm, bên trong có 5.000.000 đồng.
* Anh Nguyễn Văn  khai nhận tài sản bị mất trộm gồm:
- 01 điện thoại di động Samsung A12 màu xanh 128G cũ đã qua sử dụng, mua mới ngày 07/1/2022;
- 01 ốp điện thoại bằng nhựa màu đỏ của điện thoại Samsung A12, cũ đã qua sử dụng;
- 01 phôi sim nano của số điện thoại 0369234xxx;
- 01 lợn đất màu đỏ kích thước (30x30x35) cm;
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐG ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận:
“ - 01 điện thoại di động Samsung A12 màu xanh 128Gb cũ đã qua sử dụng, mua mới ngày 07/1/2022. Tại thời điểm tháng 3/2024 có giá trị là: 1.100.000đ.
- 01 ốp điện thoại bằng nhựa màu đỏ của điện thoại Samsung A12, cũ đã qua sử dụng. Tại thời điểm tháng 3/2024 có giá trị là: 50.000₫ .
- 01 phôi sim nano của số điện thoại 0369.234.xxx. Tại thời điểm tháng 3/2024 có giá trị là: 100.000đ.
- 01 lợn đất màu đỏ kích thước (40x30x30)cm. Tại thời điểm tháng 3/2024 có giá trị là: 150.000đ.
- 01 lợn đất màu đỏ kích thước (30x30x35) cm. Tại thời điểm tháng 3/2024 có giá trị là: 100.000đ.
Tổng cộng: (1.100.000đ + 50.000Đ + 100.000đ + 150.000đ + 100.000₫) = 1.400.000đồng.
Tổng số tiền trộm cắp là 1.400.000 đồng.
Ngày 02/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành bắt khẩn cấp, tạm giữ đối với Bùi Văn Q, Nguyễn Mạnh T2. Cả Q và T2 đều khai nhận hành vi nêu trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành dẫn giải Bùi Văn Q đi xác định hiện trường các vụ trộm cắp tài sản mà Q đã thực hiện trên địa bàn huyện C, Hà Nội. Quá trình dẫn giải, Quang đề xác định chính xác nhà ở và nơi để tài sản trước khi bị Q chiếm đoạt của các bị hại, phù hợp với lời khai người bị hại.
Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ:
- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh BKS: BKS: 29Y2 - 4179, số khung: RLHHC09007Y635258; số máy: HC09E5735174, cũ đã qua sử dụng do Nguyễn Mạnh T2 tự nguyện giao nộp, đây là phương tiện mà T2 sử dụng chở Q đi trộm cắp tài sản.
Ngày 03/4/2024, Phạm Xuân T ra đầu thú và khai nhận nhiều lần mua điện thoại di động của Q và T2. Đến ngày 04/3/2024, Q mang 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đến bán, lúc này hỏi thì T mới biết đây là tài sản trộm cắp, nhưng vì ham rẻ nên T vẫn mua để bán kiếm lời. T không hứa hẹn gì với Q và T2 về việc mua tài sản trộm cắp.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Xuân T và đã thu giữ được 03 chiếc điện thoại di động Phạm Xuân T đã mua được từ Bùi Văn Q, Nguyễn Mạnh T2.
* Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng :
Các bị hại gồm: Anh Bùi Thanh T11, chị Vương Thị T3, anh Nguyễn Văn L1, anh Nguyễn Văn Â. anh Nguyễn Văn T12, chị Nguyễn Thị T10, chị Lữ Thị H, chị Nguyễn Thị Thanh N2, chị Nguyễn Thị Ngọc H1, anh Trần Việt A, chị Nguyễn Thị Thúy N3, anh Lưu Hữu T8, chị Đỗ Thị Yến N4 đều yêu cầu được lấy lại tài sản của mình đã bị các bị cáo chiếm đoạt và đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật. Đến nay các bị cáo chưa bồi thường cho bị hại.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2024/HSST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội đã xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Cướp tài sản”, “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo Phạm Xuân Trọng phạm T13 “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Về hình phat: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm c khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Bùi Văn Q. Xử phạt Bùi Văn Q 08 (tám) năm tù về tội “Cướp tài sản”; 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả ba tội buộc bị cáo Bùi Văn Q phải chấp hành là 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phạm Xuân T. Xử phạt Phạm Xuân T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/4/2024.
Ngày 24/9/2024, bị cáo Bùi Văn Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 04/10/2024, bị cáo Phạm Xuân T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo đúng chủ thể, trong thời hạn theo qui định tại Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận về hình thức.
Về nội dung: Trong khoảng thời gian từ 26/02/2023 đến 27/3/2024, Bùi Văn Q đã trộm cắp tài sản của 8 bị hại với tổng trị giá tài sản là 76.335.000 đồng; 1 lần cướp tài sản trị giá 8.650.000 đồng và lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 6 bị hại trị giá 18.000.000 đồng. Nguyễn Mạnh T2 biết là Q đi trộm cắp tài sản, đã 05 lần chở Q đi trộm cắp tài sản về bán chiếc điện thoại di động cho Phạm Xuân T, tổng số tài sản trộm cắp là 57.775.000 đồng Phạm Xuân Trọng tiêu thụ 10 chiếc điện thoại di động do Q, Trọng phạm tội mà có với tổng số tiền 79.985.000 đồng và mua đi bán lại hưởng lợi 6.800.000 đồng. Hành vi của Bùi Văn Q cấu thành tội “Cướp tài sản”, “Trộm cắp tài sản”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168; điểm c khoản 2 Điều 173 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự; hành vi của Phạm Xuân T cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Xét kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, thì thấy: Tại cấp sơ thẩm, bị cáo Bùi Văn Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi trộm cắp tài sản, quanh co chối tội về hành vi cướp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xét xử đối với bị cáo; bị cáo phạm tội nhiều lần, mỗi lần thực hiện hành vi phạm tội cấu thành một tội phạm độc lập nên áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự “phạm tội 2 lần trở lên”; bị cáo có nhân thân xấu, chưa bồi thường cho các bị hại. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”, 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 13 năm tù là phù hợp, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo ở cấp phúc thẩm.
Bị cáo Phạm Xuân T tiêu thụ tài sản do Q phạm tội mà có 6 lần. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú là tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Bị cáo phạm tội 2 lần trở lên nên áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, nhân thân xấu. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo giao nộp tài liệu thể hiện gia đình có công với cách mạng, bị cáo hiến máu tình nguyện, đã nộp án phí hình sư sơ thẩm và tiền hưởng lợi bất chính. Tuy nhiên, xét thấy mức hình phạt mà cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo đã phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên các quyết định của Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định, đúng về chủ thể theo qui định tại Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của các bị cáo, lời khai của các bị hại, các kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 26/02/2023 đến ngày 27/3/2024, Bùi Văn Q đã dùng thủ đoạn thuê xe ôm chở Q vào khu vực huyện C, lợi dụng nửa đêm Q lẻn vào nhà người dân lấy trộm tài sản như sau:
- Bùi Văn Q đã thực hiện 07 vụ trộm cắp tài sản; 01 lần cướp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 6 bị hại, cụ thể:
- - Ngày 26/9/2023, Q cầm theo con dao lấy ở khu vực bếp nhà chị T3 với mục đích để cậy cửa phòng ngủ chị Nguyễn Thu T5 (sinh năm 2005) tại thôn L, xã P, huyện C, trộm cắp được 01 điện thoại di động S1 10 Plus + màu đen 256G, gắn sim số: 0325501xxx, có bao da Clear View Note mua mới năm 2020 và 01 thẻ căn cước công dân, thì bị chị T5 phát hiện, Q vẫn cầm con dao trên tay và đe dọa chị T5 rồi nhanh chóng chạy thoát. Chị T5 khai mất 8.000.000 đồng, tuy nhiên không có căn cứ nên tòa không chấp nhận số tiền chị T5 bị mất.
- - Từ ngày 26/02/2023 đến ngày 27/3/2024, Q đã lén lút đột nhập vào nhà của 08 bị hại là chị Vương Thị T3, anh Nguyễn Văn K, chị Lữ Thị H, anh Phạm Văn T14, chị Nguyễn Thị T10, anh Bùi Thanh T11, anh Nguyễn Văn L1, anh Nguyễn Văn  Trộm cắp được các tài sản là 05 con lợn đất đựng tiền, 11 chiếc điện thoại di động có tổng trị giá 76.335.000 đồng.
- - Ngày 26/10/2023, Q trộm cắp được 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S21 FE của anh Phạm Văn T7, thấy có mật khẩu tài khoản, số điện thoại người quen anh T7, Q đã mạo danh lừa đảo 06 bị hại là chị Nguyễn Thị Thanh N2, chị Nguyễn Thị Ngọc H1, anh Trần Việt A, chị Nguyễn Thị Thúy N3, anh Lưu Hữu T8, chị Đỗ Yến N4 chuyển tiền cho anh T7 vay, Q nhờ T2 đi rút 11.000.000 đồng tại cửa hàng anh Đỗ Trung T9, Q chuyển đến tài khoản của anh Lê Nhất S 7.000.000 đồng. Tổng số tiền Q đã chiếm đoạt được 18.000.000 đồng.
- Từ ngày 26/9/2024 đến ngày 27/3/2024, Nguyễn Mạnh T2 biết là Q đi trộm cắp tài sản, đã 05 lần chở Q đi trộm cắp tài sản về bán chiếc điện thoại di động cho Phạm Xuân T, tổng số tài sản trộm cắp là 57.775.000 đồng. Đối với hành vi cướp tài sản của chị T3, T2 không biết chỉ biết Q đi trộm về rồi đi đón, đem điện thoại bán cho T nên T2 không đồng phạm với Q về hành vi cướp tài sản.
- Từ ngày 04/3/2024 đến ngày 27/3/2024, Phạm Xuân T biết số điện thoại di động Q và T2 mang đến bán là tài sản do trộm cắp mà có, tuy không hứa hẹn nhưng vẫn tiêu thụ 10 chiếc điện thoại di động có tổng trị giá 79.985.000 đồng.
Xét kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy: Do không chịu lao động lại muốn có tiền ăn chơi. Trong khoảng thời gian từ 26/02/2023 đến 27/3/2024, Bùi Văn Q đã trộm cắp tài sản của 8 bị hại với tổng trị giá tài sản là 76.335.000 đồng; 1 lần cướp tài sản trị giá 8.650.000 đồng và lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 6 bị hại trị giá 18.000.000 đồng. Nguyễn Mạnh T2 biết là Q đi trộm cắp tài sản, đã 05 lần chở Q đi trộm cắp tài sản về bán chiếc điện thoại di động cho Phạm Xuân T, tổng số tài sản trộm cắp là 57.775.000 đồng Phạm Xuân Trọng tiêu thụ 10 chiếc điện thoại di động do Q, Trọng phạm tội mà có với tổng số tiền 79.985.000 đồng và mua đi bán lại hưởng lợi 6.800.000 đồng. Hành vi của Bùi Văn Q cấu thành 3 tội “Cướp tài sản”, “Trộm cắp tài sản”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo Phạm Xuân Trọng phạm T13 “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Bị cáo Q giữ vai trò chính, nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội khác nhau, bị cáo T nhiều lần tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có. Hai bị cáo đều có nhân thân xấu, ngày 31/7/2024, bị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản (đối với Q) và Mua tài sản do người khác trộm cắp mà có (đối với T) nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa sai lầm mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định xử phạt bị cáo Bùi Văn Q 08 (tám) năm tù về tội Cướp tài sản; 04 (bốn) năm tù về tội Trộm cắp tài sản; 12 (mười hai) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt chung cho cả ba tội buộc bị cáo Bùi Văn Q phải chấp hành là 13 (mười ba) năm tù; Xử phạt Phạm Xuân T 18 (mười tám) tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo Q không có tình tiết mới; bị cáo T giao nộp tài liệu thể hiện gia đình có công với cách mạng, bị cáo hiến máu tình nguyện, đã nộp án phí hình sư sơ thẩm và tiền hưởng lợi bất chính là 6.800.000 đồng, tuy nhiên, mức án cấp sơ thẩm xét xử đối với các bị cáo đã phù hợp nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Q và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo đối với bị cáo T.
Từ nhận định trên, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Bùi Văn Q và Phạm Xuân T, giữ nguyên các quyết định của Bản án sơ thẩm.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn Q và Phạm Xuân T, xử:
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm c khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Bùi Văn Q. Xử phạt Bùi Văn Q 08 (tám) năm tù về tội “Cướp tài sản”, 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 12 (mười hai) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Bùi Văn Q phải chấp hành hình phạt chung của 3 tội là 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phạm Xuân T. Xử phạt Phạm Xuân T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/4/2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Bùi Văn Q, Phạm Xuân T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Thủy |
Bản án số 157/2025/HS-PT ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 157/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Q Phạm Xuân T tội “Trộm cắp tài sản”tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
