TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 157/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10-4-2025 “V/v: Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà
Bà Nguyễn Thị Luận
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Kim Tuấn Việt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 46/2025/TLST-HNGĐ ngày 07/02/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/03/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QÐST - HNGĐ, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1986
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm A, thôn Q, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Minh T1, sinh năm 2001
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H, xã Đ (nay là xã H) huyện C, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/02/2025, ý kiến tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – Anh Nguyễn Đình T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh với chị Nguyễn Thị Minh T1, sinh năm 2001 có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 16/7/2024 tại UBND xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chung sống với nhau tại gia đình anh ở xã T, T, Hà Nội. Vợ chồng anh khó có con do sức khỏe của anh T bị yếu nên gia đình đã khuyên vợ chồng anh đi can thiệp làm thụ tinh nhân tạo để có con nhưng chị T1 không đồng ý. Đến tháng 9 năm 2024 thì chị T1 bỏ về nhà bố mẹ để ở thôn H, xã Đ (nay là xã H), huyện C, Thành phố Hà Nội sinh sống. Anh T đã bảo chị T1 về nhà để đoàn tụ nhưng chị T1 không về và chặn liên lạc với anh T. Nay anh T thấy vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa. Anh T xác định không còn tình cảm vợ chồng với chị T1 nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ giải quyết cho anh Nguyễn Đình T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Minh T1.
Về con chung: Vợ chồng anh Nguyễn Đình T và chị Nguyễn Thị Minh T1 chưa có con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Anh T xác định vợ chồng anh không có tài sản chung, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai của bà Nguyễn Thị V - bác ruột chị T1 và sinh sống cùng nhà với chị T1 trình bày: Bà V là bác ruột của chị T1 và ăn ở, sinh sống cùng nhà với bố mẹ chị T1 và chị T1.
Năm 2024, chị T1 và anh Nguyễn Đình T có tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn và được gia đình hai bên tổ chức cưới theo phong tục truyền thống.
Sau khi kết hôn, hai vợ chồng về chung sống với nhau tại nhà anh T ở xóm A, Q, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội. Vợ chồng sống với nhau được một thời gian ngắn đến trước tết Nguyên đán năm 2025 thì chị T1 về nhà sinh sống. Từ khi chị T1 về nhà đến nay, anh T không đến khuyên giải để hai vợ chồng về đoàn tụ. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay anh T có đơn xin ly hôn chị T1, gia đình bà và chị T1 đồng ý ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T1 được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng anh T, chị T1 chưa có con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: không có, hai vợ chồng chị T1 ở với nhau một thời gian ngắn nên chưa có tài sản chung gì.
Hiện tại chị T1 đi làm ở công ty nên không xin nghỉ để đến Tòa án làm việc được. Bà V cam kết các văn bản tố tụng do Tòa án giao cho chị T1, bà V nhận thay và giao ngay lại cho chị T1.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn – anh Nguyễn Đình T vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: đề nghị Tòa án giải quyết cho anh T được ly hôn chị T1. Về con chung: anh T, chị T1 không có con chung; Về tài sản chung, công nợ chung: xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ và đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ. Bị đơn không chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ.
+ Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị cho anh T được ly hôn chị T1. Về con chung: không có nên không xem xét. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề nghị xem xét. Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1.] Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Đình T có đơn khởi kiện đối với chị Nguyễn Thị Minh T1 về việc xin ly hôn nên xác định đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về "Ly hôn" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn – chị Nguyễn Thị Minh T1 hiện có hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn H, xã Đ (nay là xã H), huyện C, Thành phố Hà Nội, nên Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về sự vắng mặt của Bị đơn – Chị Nguyễn Thị Minh T1: Chị T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T1.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đình T và chị Nguyễn Thị Minh T1 tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 16/7/2024 tại UBND xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh T thì thấy: Căn cứ lời khai của anh Nguyễn Đình T xác nhận không còn tình cảm vợ chồng, vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2024 đến nay phù hợp với lời khai của người làm chứng – bà Nguyễn Thị V - bác ruột chị T1. Quá trình hai vợ chồng sống ly thân không quan tâm gì đến nhau nữa. Chị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc và trình bày quan điểm của mình. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao xử cho anh Nguyễn Đình T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Minh T1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.2]. Về con chung: anh T xác nhận không có con chung. Người làm chứng bà V - bác ruột của chị T1 xác nhận anh T, chị T1 không có con chung nên không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: anh T xác nhận không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí: Anh Nguyễn Đình T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Xử:
- Anh Nguyễn Đình T được ly hôn với Chị Nguyễn Thị Minh T1.
- Về con chung: không có.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Anh Nguyễn Đình T phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm; được đối trừ với 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp theo “Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án” số [...] tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ ngày 06/02/2025.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Luân |
5
Bản án số 157/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 157/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
