Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 157/2025/HNGĐ-ST

Ngày 03 - 11 - 2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Hồng Dưỡng

Ông Thái Hoàng Bo

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau.

Ngày 03 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 200/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thúy D, sinh năm 1995; CCCD số: [...] cấp ngày 07/7/2022; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt);

- Bị đơn: Anh Trần Hoàng L, sinh năm 1995; CCCD số: [...] cấp ngày 07/7/2022; địa chỉ cư trú: địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Chị Đoàn Thúy D trình bày:

Về hôn nhân: Chị D chung sống với anh L vào năm 2017, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 07/02/2018 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã T, tỉnh Cà Mau). Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, anh L thường xuyên chơi bời không quan tâm chăm sóc gia đình. Vào tháng 7/2024 chị D có gửi đơn đến Tòa án xin ly hôn cũng vì những nguyên nhân mâu thuẫn này, sau đó gia đình hai bên khuyên can nên chị rút đơn lại để tiếp tục hàn gắn chung sống. Tuy nhiên, từ khi rút đơn đến nay anh L không thay đổi, tiếp tục chơi những vấn đề không hay trên mạng xã hội. Từ những mâu thuẫn này mà vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống kéo dài nặng nề không hạnh phúc. Nay chị D xét thấy không còn niềm tin, tình cảm đối với anh L và vợ chồng không còn khả năng tiếp tục chung sống nên chị D yêu cầu ly hôn với anh L.

Về con chung: Có 01 con chung tên là Trần Bảo V, sinh ngày 15/12/2021. Sau khi ly hôn chị D yêu cầu nuôi con, yêu cầu anh L cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản, nợ chung: Không có.

* Anh Trần Hoàng L trình bày:

Về hôn nhân: Về thời gian kết hôn, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn như chị D trình bày là đúng. Quá trình chung sống giữa vợ chồng cũng không phát sinh mâu thuẫn gì lớn, thời điểm tháng 7/2024 chị D có gửi đơn xin ly hôn và rút lại đơn là đúng, khi này chị D cho rằng anh vô tâm, không chăm sóc vợ con, cha mẹ có khuyên can hàn gắn cho vợ chồng. Anh L1 thừa nhận có chơi trên mạng xã hội và có thiếu nợ nhưng anh vẫn tự làm để trả nợ và gia đình anh hỗ trợ cho anh trả nợ chứ không làm thất thoát kinh tế chung của vợ chồng. Từ những lý do này mà chị D và anh lúc nào cũng có lời qua tiếng lại, chị D liên tục yêu cầu ly hôn. Nay anh xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng chưa đến mức phải ly hôn nhau nên anh không đồng ý ly hôn với chị D.

Về con chung: Có 01 con chung tên là Trần Bảo V, sinh ngày 15/12/2021. Trường hợp tòa án giải quyết ly hôn, anh đồng ý giao con cho chị D nuôi vì con còn khá nhỏ. Vấn đề cấp dưỡng anh L1 yêu cầu cấp dưỡng trong khả năng, không đồng ý mức cấp dưỡng chị D đưa ra.

Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung nhưng anh L1 cũng không đặt ra yêu cầu phân chia, trong trường hợp có tranh chấp anh sẽ nộp đơn khởi kiện sau.

Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hôn nhân:

Chị D và anh L1 kết hôn trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống chị D xác định có mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau xung quanh việc anh L1 đi chơi và không chăm lo gia đình, anh L1 thừa nhận vợ chồng thường xuyên tranh cãi nhau xung quanh việc anh có chơi trên không gian mạng và gây nợ nhưng anh L1 xác định mâu thuẫn này không đến mức phải ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau, thương yêu tôn trọng quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng nhau chia sẽ và thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, anh chị xảy mâu thuẫn kéo dài mà không thể hàn gắn được, cụ thể vào tháng 7/2024, anh chị đã có xảy ra mâu thuẫn và chị D cũng đã nộp đơn xin ly hôn nhưng rút đơn để vợ chồng hàn gắn. Tuy nhiên, đến nay anh chị vẫn không thể hàn gắn và tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Hiện tại, chị D xác định không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống cho thấy mâu thuẫn của anh chị quá lớn, hôn nhân không thể hàn gắn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình về ly hôn theo yêu cầu của một bên để cho chị D được ly hôn với anh L1 là phù hợp.

2

[2] Về con chung:

Khi ly hôn cha mẹ đều có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Đối với cháu Trần Bảo V, chị D và anh L1 đều thống nhất giao con cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu V còn khá nhỏ, việc anh chị thỏa thuận giao con cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng là đảm bảo cho sự phát triển của con. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống ổn định hiện tại của con chung và nhằm đảm bảo các điều kiện cho con phát triển tốt nhất. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung Trần Bảo V cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng, anh L1 không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy, tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: “2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.”. Do đó, anh L1 không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là phù hợp quy định pháp luật.

Về mức cấp dưỡng: Hội đồng xét xử xét thấy, tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con. Việc chị D yêu cầu 2.000.000 đồng/tháng cũng phù hợp khả năng kinh tế của anh L1 và nhu cầu thiết yếu của con chung. Mức cấp dưỡng này cũng phù hợp với lương tối thiểu vùng tại nơi anh L1 đang cư trú. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D, buộc anh L1 có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con 2.000.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 03 tháng 11 năm 2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với các quy định tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình.

[3] Về tài sản chung và nợ chung:

Chị D và anh L1 đều xác định tự thỏa thuận phần tài sản chung và về nợ không có, không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

[4] Về án phí:

Theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng; Anh L1 phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

3

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thúy D.

  1. Về hôn nhân: Cho chị Đoàn Thúy D được ly hôn anh Trần Hoàng L.
  2. Về con chung: Giao Trần Bảo V, sinh ngày 15/12/2021 cho chị Đoàn Thúy D tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

    Anh Trần Hoàng L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 03 tháng 11 năm 2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi.

    Anh Trần Hoàng L không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  3. Về án phí:
    1. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đoàn Thúy D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001159 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh C (đã nộp xong).
    2. Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Hoàng L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viển kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Cà Mau;
  • - Chi cục thi hành án dân sự khu vực 4 – Cà Mau;
  • - Ủy ban nhân dân xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Trúc

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2025/HNGĐ-ST ngày 03/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 157/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger