Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2025/DS-ST

Ngày 20-6-2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí;

2. Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 107/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 2 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2025/QÐST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1438/2025/QĐÐST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Địa chỉ trụ sở chính: 266-268, đường N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH Một thành viên Q nợ và Khai thác tài sản Ngân hàng S.

Địa chỉ trụ sở chính: 278, đường N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lã Ngọc M – Nhân viên công ty.

- Bị đơn: Ông Lê Hữu T1, sinh năm 2001.

Địa chỉ cư trú cuối cùng: 442, khu B, ấp A, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông M có đơn xin vắng mặt, ông T1 vắng mặt không rõ lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lã Ngọc M trình bày:

Ngày 04/04/2022, ông Lê Hữu T1 có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 75.105.793 đồng (Bảy mươi lăm triệu, một trăm linh năm nghìn, bảy trăm chín mươi ba đồng). Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T1 mới chỉ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 39.850.010 đồng (Ba mươi chín triệu, tám trăm năm mươi nghìn, không trăm mười đồng) (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (theo Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), đến ngày 16/04/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (theo Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 53.466.227 đồng (Năm mươi ba triệu, bốn trăm sáu mươi sáu nghìn, hai trăm hai mươi bảy đồng) sang nợ quá hạn (gọi là nợ gốc) và tính lãi quá hạn hàng tháng trên dư nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong hạn là 2,77%/tháng x 150%= 415,5%/tháng lãi quá hạn.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông T1, yêu cầu ông T1 có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông T1 trả nợ, tuy nhiên ông T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:

  1. Buộc ông Lê Hữu T1 phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 20/6/2025 là 112.399.595 đồng (Bằng chữ: Một trăm mười hai triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn, năm trăm chín mươi lăm đồng) (trong đó: Nợ gốc: 53.466.227 đồng (Năm mươi ba triệu, bốn trăm sáu mươi sáu nghìn, hai trăm hai mươi bảy đồng), Lãi quá hạn: 58.933.368 đồng (Năm mươi tám triệu, chín trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm sáu mươi tám đồng).
  2. Buộc ông Lê Hữu T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

- Bị đơn ông Lê Hữu T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không đến Tòa án làm việc và không có bản khai nộp cho Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến của ông T1.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được đảm bảo và các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Lê Hữu T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 20/6/2025 là 112.399.595 đồng (Bằng chữ: Một trăm mười hai triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn, năm trăm chín mươi lăm đồng). Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Lê Hữu T1 có địa chỉ cư trú cuối cùng tại xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
  2. [2] Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã niêm yết hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
  3. [3] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Hữu T1 thanh toán số tiền còn nợ đối với hợp đồng tín dụng nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  4. [4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    Ngân hàng TMCP S đã ký với khách hàng Lê Hữu T1 Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng vào ngày 04/4/2022 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tại W – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) với mục đích tiêu dùng cá nhân.

    Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 75.105.793 đồng (Bảy mươi lăm triệu, một trăm linh năm nghìn, bảy trăm chín mươi ba đồng). Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay

ông T1 mới chỉ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 39.850.010 đồng (Ba mươi chín triệu, tám trăm năm mươi nghìn, không trăm mười đồng) (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (theo Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), đến ngày 16/04/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (theo Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 53.466.227 đồng (Năm mươi ba triệu, bốn trăm sáu mươi sáu nghìn, hai trăm hai mươi bảy đồng) sang nợ quá hạn (gọi là nợ gốc) và tính lãi quá hạn hàng tháng trên dư nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong hạn là 2,77%/tháng x 150%= 415,5%/tháng lãi quá hạn.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông T1, yêu cầu ông T1 có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông T1 trả nợ, tuy nhiên ông T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:

  1. Buộc ông Lê Hữu T1 phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 20/6/2025 là 112.399.595 đồng (Bằng chữ: Một trăm mười hai triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn, năm trăm chín mươi lăm đồng) (trong đó: Nợ gốc: 53.466.227 đồng (Năm mươi ba triệu, bốn trăm sáu mươi sáu nghìn, hai trăm hai mươi bảy đồng), Lãi quá hạn: 58.933.368 đồng (Năm mươi tám triệu, chín trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm sáu mươi tám đồng).
  2. Buộc ông Lê Hữu T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn cố tình vắng mặt cho thấy bị đơn đã từ bỏ quyền tự chứng minh và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp để giải quyết.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp như Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tại W – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng được ký kết giữa các bên thể hiện việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Hữu T1 phải trả số tiền gốc và lãi quá hạn còn nợ là có cơ sở.

Do vậy, căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc bị đơn ông Lê Hữu T1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền còn nợ tính đến ngày 20/6/2025 là: 112.399.595 đồng (Bằng chữ: Một trăm mười hai triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn, năm trăm chín mươi lăm đồng) (trong đó: Nợ

gốc: 53.466.227 đồng (Năm mươi ba triệu, bốn trăm sáu mươi sáu nghìn, hai trăm hai mươi bảy đồng), Lãi quá hạn: 58.933.368 đồng (Năm mươi tám triệu, chín trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm sáu mươi tám đồng).

  1. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
  2. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
  2. Buộc ông Lê Hữu T1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 20/6/2025 là: 112.399.595 đồng (Bằng chữ: Một trăm mười hai triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn, năm trăm chín mươi lăm đồng) (trong đó: Nợ gốc: 53.466.227 đồng (Năm mươi ba triệu, bốn trăm sáu mươi sáu nghìn, hai trăm hai mươi bảy đồng), Lãi quá hạn: 58.933.368 đồng (Năm mươi tám triệu, chín trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm sáu mươi tám đồng).

    Kể từ ngày 21/6/2025, ông Lê Hữu T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Lê Hữu T1 phải chịu 5.620.000 đồng (Năm triệu, sáu trăm hai mươi nghìn đồng).

    Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.223.984 đồng (Hai triệu, hai trăm hai mươi ba nghìn, chín trăm tám mươi tư đồng) theo biên lai thu tiền số 0005521 ngày 14/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hoà;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hoà;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 157/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín - Thành
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger