|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 157/2025/DS-ST Ngày 19-6-2025 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Văn Hiển
Ông Châu Trung Trực
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 281/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc “tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1967; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bị đơn:
+ Bà Nguyễn Hồng D, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
+ Ông Trần Hoàng L, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Bà H trình bày:
Bà có tham gia hụi do ông L và bà D1 làm chủ, cụ thể:
- Dây hụi thứ nhất: Loại hụi 1.000.000 đồng, mở ngày 30/8/2014, gồm 34 phần, bà H tham gia 2 phần, khui được 20 kì thì đình hụi, số tiền được hưởng là 40.000.000 đồng, trừ hoa hồng còn lại 38.800.000 đồng.
- Dây hụi thứ hai: Loại hụi 500.000 đồng, mở ngày 25/10/2014, gồm 38 phần, bà H tham gia 1 phần, số tiền được hưởng là 19.000.000 đồng, trừ hoa hồng còn lại 18.700.000 đồng.
Tổng số tiền hụi nợ là 57.500.000 đồng, sau đó bà D và ông L có trả được 12.800.000 đồng, còn nợ 44.700.000 đồng. Nay bà Trần Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Hoàng L và bà Nguyễn Hồng D trả lại số tiền hụi là 44.700.000 đồng.
* Bị đơn anh Trần Hoàng L và chị Nguyễn Hồng D: Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để biết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không có ý kiến đối với nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không tham gia hòa giải, xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Hoàng L và chị Nguyễn Hồng D đã được toà án triệu tập tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
[2] Về nội dung: Bà H khởi kiện yêu cầu anh L và chị D trả số tiền 44.700.000 đồng. Xét thấy, theo danh sách hụi bà H cung cấp đối với các dây hụi trên đều thể hiện có tên anh L là hụi viên, giấy tính tiền hụi còn nợ theo bà H xác định do chị D viết cho bà nên có cơ sở xác định giao dịch hụi giữa bà H với anh L và chị D là thực tế có diễn ra đúng như bà H trình bày. Quá trình giải quyết vụ án, bà H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để biết được yêu cầu khởi kiện của bà H, nhưng không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không có thiện chí phối hợp với Tòa án để giải quyết vụ án. Như vậy, nội dung và yêu cầu khởi kiện của của bà H thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc anh L và chị D trả cho bà H số tiền hụi 44.700.000 đồng là phù hợp và đúng quy định.
[3] Về án phí dân sự: Bà H không phải chịu do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Anh L và chị D phải chịu án phí số tiền 2.235.000 đồng (44.700.000 đồng x 5% = 2.235.000 đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 92; Điều 147, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H, buộc anh Trần Hoàng L và chị Nguyễn Hồng D trả cho bà Trần Thị H số tiền 44.700.000 đồng (bốn mươi bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh L và chị D chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng anh L và chị D còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Về án phí dân sự: Bà H không phải chịu. Bà H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 1.118.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001107 ngày 09/5/2025 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, được nhận lại. Anh L và chị D phải chịu án phí số tiền 2.235.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Huỳnh Ngọc Mai |
Bản án số 157/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 157/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
