|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 157/2025/DS-PT Ngày 11/6/2025 “Tranh chấp đòi lại di sản thừa kế" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Quang Nhuận. |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Hoàng Thành. |
| Ông Nguyễn Văn Toàn. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Diền, Kiểm sát viên.
Các ngày 04 và 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 3 năm 2025, về “Tranh chấp đòi lại di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 136/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 04 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1968, địa chỉ nơi cư trú: Số A đường H, Khóm A, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Võ Anh T, sinh năm 1985, địa chỉ: Số 1 đường V, Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
· Bị đơn:
1. Ông Phạm Văn V, sinh năm 1984, địa chỉ: Ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Phạm Văn V: Luật sư Biện Công N - Văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh S, địa chỉ: Số D đường T, Ấp C, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
2. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1983, địa chỉ: Ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
3. Ông Phạm Văn K, sinh năm 1980, địa chỉ: Ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phạm Văn L, sinh năm 1962, địa chỉ: Ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn L: Bà Võ Anh T2, sinh năm 1997, địa chỉ: Số A đường T, Khóm G, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
2. Bà Phạm Ngọc T3, sinh năm 1962, địa chỉ: L Đường C, KDC M, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
3. Bà Phạm Hồng P, sinh năm 1969, địa chỉ: Số A đường H, Khóm A, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
4. Bà Phạm Ngọc T4, sinh năm 1972, địa chỉ: Ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
5. Ông Phạm Minh T5, sinh năm 1973, địa chỉ: Ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Ngọc T3, bà Phạm Hồng P, bà Phạm Ngọc T4, ông Phạm Minh T5: Bà Võ Anh T, sinh năm 1985, địa chỉ: Số I đường V, Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
6. Bà Yết Trúc L1, sinh năm 1989, địa chỉ: Ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Phạm Văn V là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 31-7-2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Phạm Văn Q và người đại diện trình bày:
Ông nội của ông Q là cụ Phạm Văn C, sinh năm 1920 (chết năm 2001) và bà nội là cụ Phan Thị Ú, sinh năm 1922 (chết năm 2002), sinh thời 02 cụ có 02 người con là: Phạm Văn D, sinh năm 1943 (chết năm 1973) và Phạm Văn L, sinh năm 1962. Ông Phạm Văn D có 05 người con là: Phạm Văn Q, Phạm Ngọc T3, Phạm Hồng P, Phạm Ngọc T4, Phạm Minh T5. Ông Phạm Văn L có 05 người con là: Phạm Văn K, Phạm Thị T1, Phạm Văn V, Phạm Thị N1, Phạm Mỹ P1.
Sinh thời, cụ C và cụ Ú có tạo lập 06 thửa đất gồm:
- Thửa đất số 718, diện tích đo lại là 141,8m², loại đất ONT;
- Thửa đất số 298, diện tích đo lại là 3.914,3m², loại đất CLN;
- Thửa đất số 300, diện tích đo lại là 8.175,5m², loại đất LUC;
- Thửa đất số 291, diện tích đo lại là 7.120,9m², loại đất LUC;
- Thửa đất số 292, diện tích đo lại là 2.857,4m², loại đất LUC;
- Thửa đất số 293, diện tích đo lại là 4.195,7m², loại đất LUC;
Các thửa đất trên đều thuộc tờ bản đồ 02, tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, đã được Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn C đứng tên ngày 14-7-1994.
Năm 1980, ông L lập gia đình được cụ C, cụ Ú cho thửa đất số 718 để cất nhà ở riêng. Tuy nhiên, sau đó ông L ly hôn và lập gia đình mới chuyển đến thửa đất 291 cất nhà ở và quản lý, sử dụng thửa đất 291, 292, 293; cụ C, cụ Ú tiếp tục canh tác thửa đất số 300, 298, 718; khi này 04 người con của ông L là K, N1, T1, V còn nhỏ và ở cùng cụ C, cụ Ú.
Năm 2001, cụ C, cụ Ú chết không để lại di chúc. Năm 2017, ông L và 05 người con của ông D (Phạm Văn Q, Phạm Ngọc T3, Phạm Hồng P, Phạm Ngọc T4, Phạm Minh T5) lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất của cụ C và cụ Ú và được Ủy ban nhân dân xã G chứng thực ngày 21-11-2017, các bên thỏa thuận để lại toàn bộ 06 thửa đất 718, 298, 300, 291, 292, 293 cho ông Q quản lý, sử dụng và định đoạt, đến năm 2018 ông Q đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, ông V, ông K, bà T1 đang sử dụng thửa đất 718, 298, 300 không giao lại cho ông Q và có đơn khiếu nại việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q. Do đó, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S đã thu hồi lại 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 718, 298, 300 đã cấp cho ông Q đứng tên. Nay ông Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông K, bà T1, ông V trả lại cho ông quyền sử dụng đất thửa đất 718, 298, 300 tờ bản đồ 02, tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng như văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế đã được Ủy ban nhân dân xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng chứng thực ngày 21-11-2017.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông K, bà T1, vợ chồng ông V giao trả lại cho nguyên đơn quyền sử dụng đất thửa đất 718, 298, 300, tờ bản đồ 02, tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cùng tài sản gắn liền trên quyền sử dụng đất như văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế đã được Ủy ban nhân dân xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng chứng thực ngày 21-11-2017.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Văn V trình bày:
Ông nội ông V là cụ Phạm Văn C (chết năm 2001), bà nội là cụ Phan Thị Ú (chết năm 2002) có tài sản là 06 quyền sử dụng đất thửa số 718, 298, 300, 291, 292, 293, cùng tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, đã được Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 896114. Sinh thời cụ C, cụ Ú có 02 người con là Phạm Văn D (đã chết) và Phạm Văn L. Ông Phạm Văn D sinh thời có 05 người con là Phạm Văn Q, Phạm Ngọc T3, Phạm Hồng P, Phạm Ngọc T4, Phạm Minh T5. Ông Phạm Văn L có 04 người con là Phạm Văn K, Phạm Thị T1, Phạm Văn V, Phạm Thị N1, Phạm Mỹ P1.
Do cụ C, cụ Ú chết không để lại di chúc nên 06 thửa đất trên được chia thừa kế cho hai người con là ông L và ông D; qua đó, ông Q được nhận phần của ông D tại thửa đất số 291, 292, 293 là hoàn toàn đúng quy định pháp luật; riêng thửa đất số 718, 298, 300 hiện ông V đang quản lý, sử dụng là phần đất cha của ông V (là ông L) được hưởng thừa kế. Nhưng phần đất này có tranh chấp giữa ông L với ông V, bà T1 từ năm 2015, do ông V, bà T1 sống chung và nuôi dưỡng ông bà nội đến ngày cuối đời, nên ông bà nội đã cho ông V, bà T1 quản lý, canh tác quyền sử dụng đất này nhưng chưa tách quyền sử dụng đất. Đây là tranh chấp nội bộ gia đình ông L, ông V, bà T1 chưa được giải quyết thỏa đáng, không liên quan gì đến ông Q.
Đất đang tranh chấp như trên nhưng ông Q lại được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 718, 298, 300. Do đó, ông V, bà T1, ông K khiếu nại và tại Quyết định số 100 ngày 03-7-2018, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S đã hủy 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 718, 298, 300 do ông Q đứng tên, vì vậy ông Q không phải là chủ sở hữu hợp pháp của thửa đất 718, 298, 300 nên không có quyền khởi kiện. Hiện 03 quyền sử dụng đất này ông V và vợ tên Yết Trúc L1 đang quản lý, sử dụng và có xây dựng nhà tạm trên thửa đất số 298. Nay ông V yêu cầu Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Q.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phạm Thị T1 trình bày:
Bà thống nhất lời trình bày của ông V nêu trên, từ nhỏ bà ở chung với ông, bà nội tại các thửa đất số 718, 298, 300, sau khi ông bà nội mất vào năm 2001 và 2002, đến năm 2008 thì bà đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh không còn ở trên đất, đến năm 2014 thì lập gia đình và ở bên chồng. Hiện nay, ông V cùng vợ là Yết Trúc L1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng 03 thửa đất trên.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Văn K trình bày:
Ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Q, tự nguyện di dời tài sản của ông là máy bơm nước (không nhãn mác, công suất 1,5HP) trên thửa đất số 298 và đồng ý giao trả lại Quyền sử dụng đất thửa đất số 718, 298, 300 cho ông Q, ngoài ra không có yêu cầu hay ý kiến gì khác. Ông ở chung với cha là ông Phạm Văn L không có quản lý, sử dụng các thửa đất số 718, 298, 300 mà do ông V cùng vợ là Yết Trúc L1 trực tiếp quản lý, sử dụng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn L và người đại diện trình bày:
Ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Q, thống nhất giao di sản của cụ C, cụ Ú là quyền sử dụng đất thửa đất 718, 298, 300 cùng tài sản gắn liền trên đất cho ông Q theo Văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế đã được Ủy ban nhân dân xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng chứng thực ngày 21-11-2017, ngoài ra không có yêu cầu hay ý kiến gì khác; quyền sử dụng đất thửa đất số 718, 298, 300 hiện ông L không trực tiếp quản lý, sử dụng mà do ông V cùng vợ là Yết Trúc L1 trực tiếp quản lý, sử dụng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Ngọc T3, bà Phạm Hồng P, bà Phạm Ngọc T4, ông Phạm Minh T5 thống nhất trình bày:
Các ông, bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Q, thống nhất giao di sản của cụ C, cụ Ú là quyền sử dụng đất thửa đất 718, 298, 300 cùng tài sản gắn liền trên đất cho ông Q theo Văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế đã được Ủy ban nhân dân xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng chứng thực ngày 21-11-2017, ngoài ra không có yêu cầu hay ý kiến gì khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Yết Trúc L1 trình bày:
Bà thống nhất lời trình bày của ông V, hiện nay vợ chồng bà đang trực tiếp quản lý sử dụng các thửa đất số 718, 298, 300.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 22/01/2025, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
“Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn Q:
1.1 Xác định quyền sử dụng đất thửa đất số 718 (qua đo đạc thực tế diện tích 141,8m²), thửa đất số 298 (qua đo đạc thực tế diện tích 3.734,2m²), thửa đất số 300 (qua đo đạc thực tế diện tích 8.281,6m²), cùng tờ bản đồ 02, tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã được Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C896114 cho hộ ông Phạm Văn C ngày 14-7-1994 là di sản của cụ Phạm Văn C và cụ Phan Thị Ú chết để lại.
1.2 Buộc vợ chồng ông Phạm Văn V, bà Yết Trúc L1 và bà Phạm Thị T1 có nghĩa vụ giao trả cho ông Phạm Văn Q quyền sử dụng đất thửa đất số 718 (qua đo đạc thực tế diện tích 141,8m²), thửa đất số 298 (qua đo đạc thực tế diện tích 3.734,2m²), thửa đất số 300 (qua đo đạc thực tế diện tích 8.281,6m²), cùng tờ bản đồ 02, tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã được Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C896114 cho hộ ông Phạm Văn C ngày 14-7-1994 và các tài sản gắn liền trên quyền sử dụng đất thửa đất số 718, thửa đất số 298, thửa đất số 300 trên theo thỏa thuận giữa các ông/bà Phạm Văn L và Phạm Văn Q, Phạm Ngọc T3, Phạm Hồng P, Phạm Ngọc T4, Phạm Minh T5 tại Văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế đã được Ủy ban nhân dân xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng chứng thực ngày 21-11-2017 và tại phiên tòa. Cụ thể các quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền quyền sử dụng đất như sau:
1.2.1 Quyền sử dụng đất thửa đất số 718 (qua đo đạc thực tế diện tích 141,8m²), tờ bản đồ 02, tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng có tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp thửa đất 298 số đo 16,20m;
- + Hướng Tây giáp thửa đất 298 số đo 16,10m;
- + Hướng Nam giáp thửa đất 298 số đo 7,20m;
- + Hướng Bắc giáp thửa đất 298 số đo 10,50m.
1.2.2 Quyền sử dụng đất thửa đất số thửa đất số 298 (qua đo đạc thực tế diện tích 3.734,2m²), tờ bản đồ 02, tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng có tử cận như sau:
- + Hướng Đông giáp thửa đất số 300 số đo 57,18m;
- + Hướng Tây giáp lề Lộ dal số đo 24,68m + 12,22m + 23,25m;
- + Hướng Nam giáp đất ông Phạm Văn K1 số đo 54m + 11,8m;
- + Hướng Bắc giáp phần đất ông Phạm Văn Q số đo 22,10m + 45m.
Các tài sản gắn liền trên quyền sử dụng đất thửa đất số 298 gồm: 01 căn nhà diện tích 34,85m² ({5m x 3,27m} + {5m x 3,7m} kết cấu cột BTCT + cột gỗ, nền gạch tàu + nền đất, tường 10 + vách lá, mái tol xi măng); 01 căn nhà diện tích 14,972m² (3,94m x 3,8m, kết cấu cột gỗ, nền đất, mái tol, vách tol) + 01 nhà chòi diện tích 10,54m² (3,4m x 3,1m, kết cấu cột gỗ, nền đất, vách lá, mái lá); các cây trồng gồm 16 cây dừa, 01 cây khế, 01 cây lụa, 01m² tre.
1.2.3 Quyền sử dụng đất thửa đất số 300 (qua đo đạc thực tế diện tích 8.281,6m²), tờ bản đồ 02, tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng có tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp đất ông Phạm Văn L số đo 51,88m;
- + Hướng Tây giáp thửa đất 298 số đo 57,18m;
- + Hướng Nam giáp đất ông Phạm Văn K1 số đo 29,18m + 123,89m;
- + Hướng Bắc giáp phần đất ông Phạm Văn Q số đo 151,7m.
Các tài sản gắn liền trên quyền sử dụng đất thửa đất số 300 gồm: Nhà mồ mộ của ông Phạm Văn D diện tích 27,3m² (ngang 3,5m x dài 7,8m, kết cấu cột BTCT, gạch men, mái tol); nhà mồ mộ của cụ C, cụ Ú và của người thân của cụ C, cụ Ú diện tích 22,287m² (ngang 5,1m x dài 4,37m); một số cây trồng trên đất gồm 14 cây kiểng (cây mai...), 01 cây tạp, 01 cây bưởi.
1.3 Buộc bị đơn ông Phạm Văn V có nghĩa vụ di dời 01 máy bơm nước (hiệu Superwin, công suất 1,5HP) trên thửa đất số 298, tờ bản đồ 02, tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã được Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C896114 cho hộ ông Phạm Văn C ngày 14-7-1994 để giao trả lại quyền sử dụng đất thửa đất số 298 trên cho ông Phạm Văn Q.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn ông Phạm Văn K về việc tự nguyện di dời 01 máy bơm nước (không nhãn mác, công suất 1,5HP) của ông K trên thửa đất số 298 và giao trả cho ông Phạm Văn Q quyền sử dụng đất thửa đất số 718 (qua đo đạc thực tế diện tích 141,8m²), thửa đất số 298 (qua đo đạc thực tế diện tích 3.734,2m²), thửa đất số 300 (qua đo đạc thực tế diện tích 8.281,6m²),
cùng tờ bản đồ 02, tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã được Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C896114 cho hộ ông Phạm Văn C ngày 14-7-1994 và các tài sản gắn liền trên quyền sử dụng đất thửa đất số 718, thửa đất số 298, thửa đất số 300 trên theo thỏa thuận giữa các ông/bà Phạm Văn L và Phạm Văn Q, Phạm Ngọc T3, Phạm Hồng P, Phạm Ngọc T4, Phạm Minh T5 tại Văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế đã được Ủy ban nhân dân xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng chứng thực ngày 21-11-2017 và tại phiên tòa.
3. Các quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền thửa đất số 718, 298, 300 theo Sơ đồ hiện trạng thửa đất do Công ty TNHH H thực hiện ngày 14-03-2024 kèm theo.
4. Buộc ông Phạm Văn Q có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn V số tiền làm tròn 87.010.000 đồng (gồm chi phí bảo quản di sản 64.400.000 đồng + căn nhà 14,972m² trị giá 18.476.196 đồng + nhà chòi 10,54m² trị giá 3.334.329 đồng + 01m² tre trị giá 800.000 đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền chậm thi hành án.
5. Buộc ông Phạm Văn Q có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị T1 số tiền 1.360.000 đồng (gồm 01 cây kiểng {cây mai} trị giá 150.000 đồng + 01 cây bưởi trị giá 1.210.000 đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền chậm thi hành án.”
Ngoài ra, trong bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 06/02/2025, ông Phạm Văn V gửi đơn kháng cáo, không đồng ý với quyết định của bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Q về việc buộc ông trả lại 03 thửa đất số 300, 298 và 718 vì đây là tài sản của ông, bà nội ông để lại chưa phân chia thừa kế; về thủ tục tố tụng đề nghị cấp phúc thẩm xem xét việc cấp sơ thẩm đã giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất nhưng khi xét xử bản án giải quyết là đòi lại di sản thừa kế.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên đơn khởi kiện, bị đơn giữ nguyên kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phạm Văn V trình bày tranh luận: Về thủ tục tố tụng, ông Q khởi kiện đòi lại quyền sử dụng đất nhưng trong quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Đòi lại di sản thừa kế” là không đúng và giải quyết quan hệ tranh chấp này là vượt quá phạm vi khởi kiện của nguyên đơn. Về nội dung vụ án, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S đã thu hồi 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Q tại 03 thửa đất số 178, 298, 300, vì vậy các thửa đất này không thuộc quyền sử dụng của ông Q nên ông không có quyền đòi ông V trả lại đất. Hiện nay 03 thửa đất này vẫn còn là di sản của cụ C và cụ Ú chưa phân chia, ông V là người trực tiếp quản lý sử dụng từ trước đến nay, trong vụ án này các đương sự không yêu cầu chia thừa kế nên ông V là người có quyền tiếp tục quản lý di sản. Ông Q căn cứ theo biên bản thỏa thuận phân chia di sản lập ngày 21/11/2017 để yêu cầu ông V giao trả đất nhưng biên bản này đã không còn giá trị pháp lý vì vi phạm luật đất đai theo nhận định của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn Q.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến: Về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn V sửa bản án sơ thẩm. Việc cấp sơ thẩm giải quyết buộc ông Q thanh toán cho ông V giá trị công sức giữ gìn di sản và công chăm sóc cụ C và cụ Ú với tỷ lệ 10% giá trị di sản là ít chưa tương xứng, đồng thời ông V đã ở trên phần đất tranh chấp từ nhỏ đến nay và hiện tại không còn chỗ ở nào khác nên cần phải giao hiện vật một phần đất cho ông V để ổn định cuộc sống.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Theo đơn khởi kiện lập ngày 31/7/2023, ông Phạm Văn Q yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Văn K, bà Phạm Thị T1, ông Phạm Văn V trả lại cho ông 03 thửa đất số 718, 298 và 300 tọa lạc tại ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, theo văn bản thỏa thuận phân chia thừa kế đã được UBND xã G chứng thực ngày 21/11/2017. Bản án sơ thẩm xác định nội dung tranh chấp giữa các bên là “Tranh chấp đòi lại di sản thừa kế” là đúng quy định quy định Bộ luật tố tụng dân sự, nội dung giải quyết không vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do vậy, kháng cáo của ông Phạm Văn V cho rằng cấp sơ thẩm giải quyết vụ án vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự là không có cơ sở chấp nhận.
[2] Các thửa đất 718, 298, 300 nguồn gốc là của cụ C, cụ Ú đã được Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14-7-1994, cụ C chết năm 2001 và cụ Ú chết năm 2002 không để lại di chúc, do vậy các đất thửa số 718, 298, 300 là di sản của cụ C, cụ Ú. Sinh thời cụ C, cụ Ú có 02 người con là ông L, ông D, nhưng do ông D chết năm 1973 nên con của ông D là ông Q, bà T3, bà P, bà T4, ông T5 sẽ được hưởng thừa kế thế vị của ông D theo quy định Điều 652 Bộ luật Dân sự. Từ đó, xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ C, cụ Ú là ông L và ông Q, bà T3, bà P, bà T4, ông T5 theo quy định tại Điều 650, Điều 651 Bộ luật Dân sự.
[3] Vào ngày 21-11-2017, tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện M, ông L và ông Q, bà T3, bà P, bà T4, ông T5 đã lập văn bản thỏa thuận phân chia các thửa đất 718, 298, 300 cho ông Q được quyền sử dụng. Đến năm 2018, ông Q được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 718, 298 và 300, nhưng sau đó thì Sở đã thu hồi lại toàn bộ 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này với lý do: Tại thời điểm các bên lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản của cụ C và cụ Ú thì 03 thửa đất nêu trên đang phát sinh tranh chấp giữa ông L với các người con là anh V, chị T1, anh K nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền giải quyết, do vậy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 718, 298, 300 cho ông Q là chưa đảm bảo điều kiện thực hiện quyền thừa kế đất đai quy định tại điểm b khoản 1 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013. Vì giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 718, 298, 300 cấp cho ông Q bị thu hồi nên 03 thửa đất này vẫn còn là di sản của cụ C và cụ Ú chưa phân chia, nay những người được thừa hưởng di sản của hai cụ là ông L và ông Q, bà T3, bà P, bà T4, ông T5 đều thống nhất giao cho ông Q được quyền quản lý di sản là 03 thửa đất này là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 616 của Bộ luật Dân sự. Vì vậy, việc ông Q yêu cầu ông V, bà T1 là những người không thuộc hàng thừa kế thứ nhất được phân chia di sản của cụ C, cụ Ú phải giao trả lại di sản cho ông Q quản lý là phù hợp quy định pháp luật.
[4] Ông V, bà T1 cho rằng cụ C, cụ Ú đã tặng cho ông, bà 03 thửa đất 718, 298, 300. Tuy nhiên, ông V, bà T1 không cung cấp được di chúc, văn bản tặng cho hay tài liệu, chứng cứ chứng minh việc này. Đây là nghĩa vụ chứng minh của ông, bà theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Vì vậy, nội dung kháng cáo của ông V về việc này không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Ông V là cháu nội sinh sống cùng cụ C, cụ Ú đến khi hai cụ mất và từ đó tiếp tục quản lý quyền sử dụng đất thửa đất 718, 298, 300 đến nay, ông là có công sức chăm sóc cụ C, cụ Ú và bảo quản di sản nên được quyền hưởng chi phí bảo quản di sản theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 618 Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên cấp sơ thẩm xác định giá trị công sức là của ông V được hưởng tương ứng 10% giá trị di sản là quyền sử dụng đất thửa 718, 298, 300 và tài sản gắn liền là chưa tương xứng, vì vậy cấp phúc thẩm xác định lại với tỷ lệ là 20% tương
đương với số tiền 128.800.000 đồng cho phù hợp. Vì ông V đã ở trên các thửa đất này từ nhỏ đến nay và hiện tại không còn chỗ ở nào khác nên cần phải giao hiện vật một phần đất cho ông V để ổn định cuộc sống, cụ thể: Giao cho ông V thửa đất số 718, diện tích 141,8m² loại đất ở và một phần thửa 298, diện tích 902,1m² loại đất cây lâu năm, tổng giá trị của các phần đất này là 81.958.000 đồng, như vậy ngoài phần đất trên ông V còn được nhận thêm số tiền là 128.800.000 đồng - 81.958.000 đồng = 46.842.000 đồng. Những người thừa kế của cụ C, cụ Ú đòi lại di sản thì có nghĩa vụ thanh toán chi phí bảo quản di sản cho ông V. Ông Q và những người thừa kế đều thống nhất giao cho ông Q quyền quản lý di sản nên cần thiết buộc ông Q có nghĩa vụ thanh toán chi phí ông V, khi nào các bên có phân chia di sản thì những người thừa kế còn lại có nghĩa hoàn trả cho ông Quân số tiền đã thanh toán cho ông V.
[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của ông V, chấp nhận một phần đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông V và chấp nhạn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là sửa bản án sơ thẩm. Vì bản án sơ thẩm bị sửa về nội dung nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét lại nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm của các đương sự theo quy định của pháp luật.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn V không phải chịu án phí, do nội dung kháng cáo được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Điều 616, Điều 650, Điều 651 và Điều 658 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn V, sửa bản án sơ thẩm 06/2025/DS-ST ngày 22/01/2025, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng như sau:
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn Q về việc yêu cầu ông Phạm Văn V, bà Yết Trúc L1 và bà Phạm Thị T1 giao trả lại di sản của cụ Phạm Văn C và cụ Phan Thị Ú:
1. Buộc ông Phạm Văn V, bà Yết Trúc L1 và bà Phạm Thị T1 có nghĩa vụ giao trả di sản của cụ C và cụ Ú cho ông Phạm Văn Q được quyền quản lý bao gồm:
1.1. Một phần thửa đất số 298, diện tích 2.690,3m², loại đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ 02, tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, có tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp thửa đất số 300 số đo 43,95m;
- + Hướng Tây giáp lề Lộ dal số đo 24,86m + 12,22m + 4,78m;
- + Hướng Nam giáp phần còn lại của thửa 298 và giáp thửa 718 có các số đo: 4,64m + 50,44m + 10,5m;
- + Hướng Bắc giáp phần đất ông Phạm Văn Q số đo 22,10m + 45m.
(có sơ đồ kèm theo bản án)
- Ông Q được quyền quản lý, sử dụng các tài sản gắn liền trên thửa đất số 298 gồm: 01 căn nhà diện tích 34,85m² ({5m x 3,27m} + {5m x 3,7m}, kết cấu: Cột bê tông cốt thép + cột gỗ, nền gạch tàu + nền đất, tường 10 + vách lá, mái tol xi măng); các cây trồng gồm 16 cây dừa, 01 cây khế, 01 cây lụa, 01m² tre.
- Ông Phạm Văn V và bà Yết Trúc L1 có nghĩa vụ tháo dỡ hoặc phá dỡ để di dời tài sản của ông, bà trên thửa đất 298, bao gồm: 01 căn nhà (không kiên cố) diện tích 14,972m² (3,94m x 3,8m), kết cấu: Cột gỗ, nền đất, mái tol, vách tol; 01 nhà chòi tạm diện tích 10,54m² (3,4m x 3,1m), kết cấu: cột gỗ, nền đất, vách lá, mái lá; 01 máy bơm nước (hiệu Superwin, công suất 1,5HP).
- Ông Phạm Văn K có nghĩa vụ di dời 01 máy bơm nước (không nhãn mác, công suất 1,5HP) của ông K trên thửa đất số 298.
1.2. Thửa đất số 300, diện tích đo đạc thực tế 8.281,6m², loại đất trồng lúa, tờ bản đồ 02, tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, có tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp đất ông Phạm Văn L số đo 51,88m;
- + Hướng Tây giáp thửa đất 298 số đo 57,18m;
- + Hướng Nam giáp đất ông Phạm Văn K1 số đo 29,18m + 123,89m;
- + Hướng Bắc giáp phần đất ông Phạm Văn Q số đo 151,7m.
(có sơ đồ kèm theo bản án)
- Giao cho ông Q quản lý các tài sản gắn liền trên thửa đất số 300 gồm: Nhà mồ mộ của ông Phạm Văn D diện tích 27,3m² (ngang 3,5m x dài 7,8m, kết cấu cột BTCT, gạch men, mái tol); nhà mồ mộ của cụ C, cụ Ú và của người thân của cụ C, cụ Ú diện tích 22,287m² (ngang 5,1m x dài 4,37m); một số cây trồng trên đất gồm 14 cây kiểng (cây mai...), 01 cây tạp, 01 cây bưởi.
2. Ông Phạm Văn V có công sức giữ gìn di sản và công chăm sóc cụ C, cụ Ú nên được thanh toán chi phí bằng hiện vật và tiền như sau:
2.1. Ông Phạm Văn V được quyền sử dụng thửa đất số 718, diện tích đo đạc thực tế 141,8m², loại đất ở nông thôn, tờ bản đồ 02, tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng có tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp thửa đất 298 số đo 16,20m;
- + Hướng Tây giáp thửa đất 298 số đo 16,10m;
- + Hướng Nam giáp thửa đất 298 số đo 7,20m;
- + Hướng Bắc giáp thửa đất 298 số đo 10,50m.
(có sơ đồ kèm theo bản án)
2.2. Ông Phạm Văn V được quyền sử dụng một phần thửa đất số 298, diện tích 902,1m², loại đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ 02, tọa lạc ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng có tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp thửa đất 300 số đo 13,23m;
- + Hướng Tây giáp lộ bê tông số đo 18,47m;
- + Hướng Nam giáp đất ông Phạm Văn K1 số đo 54m + 11,8m;
- + Hướng Bắc giáp phần còn lại thửa đất 298 số đo: 4,64m + 10,50m + 50,44m.
(có sơ đồ kèm theo bản án)
Ông Phạm Văn V được quyền liên hệ Cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng các phần đất nêu trên.
2.3. Ông Phạm Văn Q có nghĩa vụ thanh toán thêm cho ông Phạm Văn Vũ công S giữ gìn di sản và công chăm sóc cụ C, cụ Ú với số tiền là 46.842.000 đồng và trả giá trị 01m² cây tre của ông Vũ T6 trên thửa đất 298 đã giao cho ông Q sử dụng trị giá 800.000 đồng, tổng cộng số tiền là 47.642.000 đồng (bốn mươi bảy triệu, sáu trăm bốn mươi hai ngàn đồng).
3. Ông Phạm Văn Q có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị T1 giá trị các cây trồng của bà T1 đã giao cho ông Q được quyền sử dụng bao gồm: 01 cây mai và 01 cây bưởi, tổng số tiền 1.360.000 đồng (một triệu, ba trăm sáu mươi ngàn đồng).
4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, thì người phải thi hành nghĩa vụ trả tiền, hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Văn V và bà Phạm Thị T1 cùng phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng);
Ông Phạm Văn Q phải chịu 2.450.100 đồng, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0000139 ngày 14-12-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, ông Q có nghĩa vụ nộp thêm số tiền 2.150.100 đồng (hai triệu, một trăm năm mươi ngàn, một trăm đồng).
Ông Phạm Văn K không phải chịu án phí;
6. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp tổng số tiền 55.460.000 đồng, các đương sự phải chịu như sau:
Ông Phạm Văn V phải chịu 44.368.000 đồng (bốn mươi bốn triệu, ba trăm sáu mươi tám ngàn đồng).
Ông Phạm Văn Q phải chịu 11.092.000 đồng (mười một triệu, không trăm chín mươi hai ngàn đồng).
Ông Phạm Văn Q đã nộp tạm ứng trước toàn bộ chi phí để thực hiện thủ tục tố tụng, nên buộc ông Phạm Văn V có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Quân số tiền 44.368.000 đồng (bốn mươi bốn triệu, ba trăm sáu mươi tám ngàn đồng).
7. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn V không phải chịu án phí, ông được nhận lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008397 ngày 10/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
9. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
Phạm Quang N2
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quang Nhuận |
Bản án số 157/2025/DS-PT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp đòi lại di sản thừa kế
- Số bản án: 157/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: GIỮ NGUYÊN BẢN ÁN SƠ THẨM
