Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Quỳnh Trang.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quốc Bình

Ông Vũ Xuân Bình

- Thư ký phiên toà: Bà Lường Khánh Ly, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Dương, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 155/2024/TLST-HS ngày 10/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Sùng A N

(tên gọi khác: không), sinh ngày 10 tháng 9 năm 1994 tại huyện T, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKNKTT: Thôn S, huyện T, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sùng A S, sinh năm 1958, và bà Vừ Thị T, sinh năm 1962; có vợ là Lầu Thị Đ, sinh năm 1991, trú tại Thôn S, huyện T, tỉnh Điện Biên và 06 con, con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án: không; Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lầu Thị Đ, sinh năm 1991, trú tại Thôn S, huyện T, tỉnh Điện Biên.

- Người phiên dịch: Ông Và A C, Cán bộ Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 17/5/2024, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy – Công an Thành phố S chủ trì phối hợp với Hạt kiểm lâm thành phố S làm nhiệm vụ tại trục đường dốc két nước thuộc tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đã phát hiện, bắt quả tang Sùng A N đang có hành vi cất giữ trái phép 01 cá thể rắn hổ mang, đầu màu nâu đen, thân màu đen có nhiều sọc trắng đang sống, nghi là rắn hổ mang chúa (N khai nhận là cá thể rắn hổ mang chúa, N mang đi bán để lấy tiền chi tiêu cá nhân).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Sùng A N khai nhận:

Khoảng 07 giờ ngày 17/5/2024, Sùng A N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 27T1-121.48 từ nhà ở thôn G, xã S, huyện T, tỉnh Điện Biên đi làm nương cách nhà khoảng 03 km. Trong lúc đang làm nương, N nhìn thấy có một con rắn hổ mang chúa bò đến nên N1 đã nhặt lấy một đoạn gẫy gỗ tròn có đường kính khoảng 04cm, dài khoảng 1,5m rượt đuổi theo con rắn, đập một nhát vào phần lưng rồi dùng gậy tì đè lên đầu con rắn khi nó đang bò chậm. Sau khi bắt được con rắn, Nhà cho vào một cái bao tải dứa màu trắng và buộc lại bằng dây vải màu đỏ, đen ở miệng bao và cho bao tải đựng con rắn vào trong một cái balo màu đen (cả bao tải, balo đều là những vật dụng N mang theo để đựng thức ăn từ nhà đi). Biết được rắn hổ mang chúa có giá trị nên N đã nảy sinh ý định mang bán con rắn hổ mang chúa vừa bắt được để lấy tiền chi tiêu. Khoảng 11 giờ cùng ngày, N1 đặt cái balo có chứa bao tải dứa màu trắng, bên trong có chứa 01 con rắn hổ mang chúa vừa bắt được lên giá chở hàng phía trước xe mô tô của N rồi điều khiển xe đi xuống thị trấn T, tỉnh Điện Biên tìm người mua để bán nhưng không có ai mua nên N tiếp tục điều khiển xe mô tô đi xuống thành phố S để tìm người mua con rắn hổ mang. Khi đến đầu thành phố S, N dừng đỗ xe ở ven đường thuộc tổ A phường C, thành phố S. Khi N ngồi trên xe mô tô được một lúc thì bị tổ công tác Công an thành phố S yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, N tự giác giao nộp 01 chiếc balo màu đen, bên trong chứa một bao tải màu trắng có chứa 01 cá thể rắn hổ mang chúa và khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Tổ công tác cơ quan công an thành phố S đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.

Cơ quan Công an thành phố S thu giữ được vật chứng gồm: 01 cá thể rắn còn sống, đầu màu nâu đen, thân màu đen, có nhiều sọc trắng nghi là cá thể rắn hổ mang chúa; 01 balo màu đen; 01 bao tải dứa màu trắng; 01 dây vải màu đỏ đen.

Ngày 18/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố S đã bóc mở niêm phong, xác định tình trạng, đặc điểm và lập bản ảnh đối tượng giám định, kết quả: 01 cá thể rắn còn sống nghi là rắn hổ chúa, có chiều dài 03m, khối lượng 3,9kg; đầu màu nâu đen, thân mình màu đen có nhiều sọc trắng.

Tại Kết luận giám định hình thái động vật số 814/STTNCV ngày 20/5/2024 của V thuộc V1 kết luận:

“Xác định tên loài động vật: 01 cá thể động vật trong bản ảnh gửi giám định là loài Rắn hổ chúa có tên khoa học là O hannah, thuộc lớp Bò sát (Reptilia).

Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật:

1) Loài Rắn hổ chúa có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ.

2) Loài Rắn hổ chúa cũng có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.”

Đối với cá thể Rắn hổ chúa thu giữ của Sùng A N, ngày 23/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức bàn giao cho Trung tâm C1 cứu hộ, bảo quản theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số: 413/CT-VKSTP ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Sùng A N về tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Sùng A N khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên toà, người liên quan Lầu Thị Đ có ý kiến đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 27T1-121.48 là tài sản chung vợ chồng của Sùng A N và Lầu Thị Đ. Việc bị cáo N dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội vợ bị cáo không biết, không nhất trí. Đây là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình nên đề nghị Hội đồng xem xét trả lại chiếc xe máy trên.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sùng A N phạm tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Sùng A N từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định. Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47, điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 bao tải dứa màu trắng; 01 balo màu đen; 01 dây vải màu đỏ đen. Trả lại cho bị cáo Sùng A N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu TECNO POP 5LTE có số IMEI 1: 05 số cuối là 30284, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 sim Vinaphone số thuê bao 0946.586.xxx; Trả lại cho bị cáo và người liên quan Lầu Thị Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 27T1-121.48, số khung RLHJA3845NY143853, số máy JA52E0454570, đã qua sử dụng. Về án phí: Bị cáo được miễn phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Ý kiến của bị cáo nhất trí với Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo tại phiên toà. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo:

Vào ngày 17/5/2024, Sùng A N đã có hành vi cất giữ trái phép 01 cá thể Rắn hổ chúa có tên trong danh mục các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ nhằm mục đích mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân và gia đình. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

  • Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 05 phút ngày 17/5/2024 tại tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Sùng A N.
  • Kết luận giám định hình thái động vật số 814/STTNCV ngày 20/5/2024 của V thuộc V1
  • Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người chứng kiến sự việc là ông Mai Văn N2 (trú tại Tổ L, Phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La).

Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Sùng A N phạm tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo:

- Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Sùng A N: Hành vi tàng trữ 01 cá thể sống Rắn hổ chúa thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ của bị cáo Sùng A N đã vi phạm điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự 2015 có mức hình phạt hình phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 đến 05 năm, thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, thiếu hiểu biết nên đã bắt giữ 01 cá thể rắn hổ chúa mục đích mang bán lấy tiền chi tiêu cá nhân và gia đình. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, gây mất sự đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, còn phải nuôi 06 con nhỏ (con lớn nhất của bị cáo sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2023), vợ bị cáo không có công ăn việc làm ổn định. Vì vậy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, còn phải nuôi 06 con nhỏ (con lớn nhất của bị cáo sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2023), vợ bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo tại địa phương. Bị cáo phạm tội do thiếu hiểu biết, mục đích muốn mang bán cá thể Rắn hổ chúa để lấy tiền chi tiêu cá nhân và gia đình. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, quá trình sinh sống tại địa phương trước khi phạm tội bị cáo luôn chấp hành tốt các chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; tại phiên tòa bị cáo thể hiện rõ sự ăn năn hối cải, có khả năng tự cải tạo, bị cáo có đủ điều kiện để hưởng án treo. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhưng không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần trả tự do cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác. Trước khi xét xử bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 17/5/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/9/2024), trường hợp trong thời gian thử thách nếu bị cáo phạm tội mới hoặc vi phạm nghĩa vụ buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì khi giải quyết Tòa án trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam này vào bản án đã cho hưởng án treo hoặc bản án mới.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại Biên bản xác minh ngày 22/05/2024 tại Thôn S, xã S, huyện T, tỉnh Điện Biên xác định bị cáo thuộc diện gia đình hộ nghèo tại xã có kinh tế đặc biệt khó khăn, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • Đối với cá thể Rắn hổ chúa thu giữ của Sùng A N, ngày 23/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức bàn giao cho Trung tâm C1 cứu hộ, bảo quản theo quy định của pháp luật là phù hợp, đúng quy định theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
  • Đối với 01 bao tải dứa màu trắng; 01 balo màu đen; 01 dây vải màu đỏ đen; 01 giấy niêm phong ban đầu đã bóc mở: xét thấy là những vật, công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015;
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu TECNO POP 5LTE có số IMEI 1: 05 số cuối là 30284, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 sim Vinaphone số thuê bao 0946.586.xxx. Xét thấy là tài sản hợp pháp của bị cáo Sùng A N, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015;
  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 27T1-121.48, số khung RLHJA3845NY143853, số máy JA52E0454570, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác minh cho thấy đây là tài sản chung vợ chồng của Sùng A N và và Lầu Thị Đ, việc bị cáo N dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội vợ bị cáo không biết, không nhất trí. Xét thấy đây là tài sản chung của bị cáo và vợ, là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình, vợ bị cáo không biết, không tham gia thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho vợ bị cáo theo quy định tại khoản 2 điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[7] Về án phí: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên bị cáo được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015:

1. Tuyên bố bị cáo Sùng A N phạm tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”

- Xử phạt bị cáo Sùng A N 13 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 26 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/9/2024).

Trả tự do cho bị cáo Sùng A N đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Sùng A N cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Điện Biên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình Sùng A N có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Sùng A N.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trước khi xét xử bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 17/5/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/9/2024), trường hợp trong thời gian thử thách nếu bị cáo phạm tội mới hoặc vi phạm nghĩa vụ buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì khi giải quyết Tòa án trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam này vào bản án đã cho hưởng án treo hoặc bản án mới .

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

  • Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 bao tải dứa màu trắng; 01 balo màu đen; 01 dây vải màu đỏ đen; 01 giấy niêm phong ban đầu đã bóc mở.
  • Tuyên trả lại cho bị cáo Sùng A N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu TECNO POP 5LTE có số IMEI 1: 05 số cuối là 30284, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 sim Vinaphone số thuê bao 0946.586.xxx;
  • Tuyên trả lại cho bị cáo và người liên quan Lầu Thị Đ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 27T1-121.48, số khung RLHJA3845NY143853, số máy JA52E0454570, đã qua sử dụng;

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/09/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La)

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Sùng A N được miễn nộp án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo Sùng A N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/9/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/9/2024) ./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Quốc Bình Đào Thị Quỳnh Trang
Vũ Xuân Bình

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La (2);
  • - THADS thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La;
  • - Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La;
  • - THAPT (2); UBND xã Sín Chải, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm

  • Số bản án: 157/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 17/5/2024, Sùng A Nh đã có hành vi cất giữ trái phép 01 cá thể Rắn hổ chúa có tên trong danh mục các loại động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ nhằm mục đích mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân và gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger