|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 157/2024/HS-PT Ngày: 30/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện
- - Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang
- Ông Nguyễn Hà Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Giang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 176/TLPT-HS ngày 01/7/2024 đối với các bị cáo Nguyễn Thị T1, Nguyễn Xuân H, Thân Thế Q do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
*Các bị cáo kháng cáo:
-
1. Họ và tên: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965;
Nơi cư trú: Số nhà F, đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1929 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1932 (đã chết); có chồng: Lê Văn H1, sinh năm 1963 (đã chết) và có 02 con (con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1994).
Tiền sự: Không.
Tiền án: Bản án hình sự phúc thẩm số 151 ngày 18/8/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 05/01/2017; chưa chấp hành số tiền phải truy thu nộp ngân sách Nhà nước là 209.685.000 đồng và 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm nên chưa được xóa án tích.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến ngày 09/02/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, hiện tại ngoại và có mặt tại phiên toà.
-
2. Họ và tên: Nguyễn Xuân H, sinh năm 1981;
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1960 và bà Thân Thị M1, sinh năm 1960; có vợ: Phạm Thị L, sinh năm 1987 và có 02 con (con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012).
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Bản án hình sự sơ thẩm số 61 ngày 09/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 01 tháng 12 ngày về tội “Đánh bạc”; số tiền dùng đánh bạc là 8.700.000 đồng. Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, án phí vào ngày 16/01/2014.
Bản án hình sự sơ thẩm số 40 ngày 02/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”, buộc chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 02 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/4/2016, đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, án phí vào tháng 6/2017, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 15/01/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại và có mặt tại phiên toà.
-
3. Họ và tên: Thân Thế Q, sinh năm 1970;
Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 7/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Thân Thế T3, sinh năm 1943 (đã chết) và bà Hoàng Thị T4, sinh năm 1948; có vợ Nguyễn Thị L1, sinh năm 1972 và có 02 con (con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1997).
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 05 ngày 19/4/1996 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”, số tiền đánh bạc là 73.100 đồng, đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 15/01/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại và có mặt tại phiên toà.
*Trong vụ án còn có các bị cáo khác và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965, trú tại số nhà F, đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã bị kết án về tội “Đánh bạc” chưa được xoá án tích. Tĩnh có quen biết Thân Thế Q, sinh năm 1970, trú tại tổ dân phố B, phường T, thị xã V; Nguyễn Xuân H, sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Đức T5, sinh năm 1988, trú tại phòng 607, tòa 15 tầng, chung cư Q, phường H, thành phố B; Trần Thị Thùy L2, sinh năm 1990, trú tại số nhà F, đường Đ, tổ dân phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Buổi sáng ngày 06/01/2024, Nguyễn Thị T1 sử dụng tài khoản zalo “Tép Bà N” đăng ký bằng số điện thoại 0839.529.xxx gọi điện, nhắn tin cho Nguyễn Đức T5, Thân Thế Q, Trần Thị Thùy L2 và sử dụng tài khoản Facebook “Tép Bà N” liên lạc đến tài khoản Facebook của Nguyễn Xuân H rủ mọi người đến nhà T1 đánh bạc thì tất cả đồng ý. Sau đó, T1 đi mua 02 bộ bài T6 lơ khơ. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, T5, Q, L2, H lần lượt đi đến nhà T1 để đánh bạc. Chị Phạm Thị L, sinh năm 1987 là vợ của H cũng đi cùng H. Tĩnh đưa mọi người lên phòng ngủ ở tầng 2, lấy một chiếc chăn vải trải xuống nền nhà và lấy 02 bộ tú lơ khơ để mọi người đánh bạc. Tĩnh lấy 01 chiếc hộp bìa cát tông màu đen đặt trên mặt chăn để nếu có ai “ù” thì phải bỏ ra 50.000 đồng cho chủ nhà (Tĩnh để sẵn trong hộp bìa cát tông 41.000 đồng) rồi đi xuống tầng 1 khóa cửa và cảnh giới. Sau đó, L2, Q, T5 và H sử dụng 02 bộ bài tú lơ khơ đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm tại nhà T1. Mọi người thống nhất mức sát phạt như sau: Người nào ít điểm nhất sẽ thắng và người về thứ nhì, ba, tư phải trả cho người về nhất lần lượt là 50.000 đồng, 100.000 đồng, 150.000 đồng, nếu không có phỏm thì mất 200.000 đồng, nếu người nào “ù” sẽ được 300.000 đồng của ba người còn lại; nếu ai “ù” thì phải bỏ ra 50.000 đồng tiền hồ cho chủ nhà.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, chị Vũ Cẩm V, sinh năm 1984, trú tại phòng 607, tòa 15 tầng, chung cư Q, thành phố B đến nhà T1 chơi và ngồi xem đánh bạc. Chị L ngồi bên cạnh H xem và không tham gia đánh bạc. Trong lúc đánh bạc, Q bị thua hết tiền nên đã vay của T1 5.000.000 đồng để tiếp tục đánh bạc. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày khi L2, Q, T5 và H đang đánh bạc thì bị Công an thành phố B lập biên bản bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm:
- - Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 15.800.000 đồng;
- - Thu giữ số tiền 741.000 đồng trong hộp bìa cát tông màu đen
- - 01 chiếc chăn và 02 bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ bài gồm 52 quân trong đó 01 bộ có hoa văn màu xanh, 01 bộ có hoa văn màu đỏ.
- - Thu giữ trên người Nguyễn Đức T5 01 chiếc ví da bên trong có 1.600.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh số IMEI 353892103486125, 01 xe máy không gắn biển số.
- - Thu giữ của Nguyễn Xuân H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 8Z 5G màu đen.
- - Thu giữ của Thân Thế Q 01 chiếc điện thoại di động S Note 8 màu vàng.
- - Thu giữ của Trần Thị Thùy L2 01 chiếc điện thoại di động Iphone XS Max và 01 chiếc xe đạp điện.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra tạm giữ của Phạm Thị L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và số tiền 1.000.000 đồng; tạm giữ của Vũ Cẩm V 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu trắng.
Cùng ngày, Nguyễn Thị T1 đầu thú và khai nhận về hành vi đánh bạc. Cơ quan điều tra đã tạm giữ của T1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus gắn sim số 0839.529.997.
Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus lắp sim số 0839.529.997 của Nguyễn Thị T1 thấy có các tin nhắn, cuộc gọi Zalo với tài khoản zalo của Trần Thị Thùy L2, Thân Thế Q và các tin nhắn, cuộc gọi Messenger của Nguyễn Xuân H ngày 06/01/2024. Kiểm tra các điện thoại di động của Thân Thế Q, Nguyễn Xuân H, Nguyễn Đức T5, Trần Thị Thùy L2 thấy còn tin nhắn, cuộc gọi của T1. Theo T1 và các bị cáo khai là T1 rủ mọi người đến nhà đánh bạc.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai sử dụng số tiền đánh bạc như sau:
- Thân Thế Q khai sử dụng 8.300.000 đồng đánh bạc gồm 3.300.000 đồng mang theo khi đến đánh bạc và 5.000.000 đồng vay của T1. Tại thời điểm bị bắt, Q thua 5.200.000 đồng, bị thu giữ 3.100.000 đồng.
- Nguyễn Đức T5 khai sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc. Tại thời điểm bị bắt thì bị thu giữ 5.050.000 đồng, số tiền 1.600.000 đồng để trong ví sẽ sử dụng để đánh bạc.
- Nguyễn Xuân H khai sử dụng 1.800.000 đồng đánh bạc. Tại thời điểm bị bắt thì bị thu giữ 1.800.000 đồng.
- Trần Thị Thùy L2 khai sử dụng 5.000.000 đồng đánh bạc. Tại thời điểm bị bắt thì bị thu giữ 5.850.000 đồng.
Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 18.100.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 83/CT - VKS ngày 05/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Tĩnh về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân H, Thân Thế Q và Trần Thị Thùy L2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Đức T5 về tội “Đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang đã xét xử:
- 1. Áp dụng điểm đ khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ đi những ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 06/01/2024 đến 09/02/2024. Phạt tiền 10.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
- 2. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Thân Thế Q 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ đi những ngày bị cáo bị tạm giữ từ 06/01/2024 đến 15/01/2024. Phạt tiền 10.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
- 3. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 7 (bẩy) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ đi những ngày bị cáo bị tạm giữ từ 06/01/2024 đến 15/01/2024.
Ngoài ra, bản án còn tuyên xử phạt 02 bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo, hướng dẫn thi hành án theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/5/2024 bị cáo Nguyễn Thị T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; các bị cáo Thân Thế Q, Nguyễn Xuân H kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo đều trình bày: Về tội danh, điều luật áp dụng xét xử đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Bị cáo Nguyễn Thị T1, Nguyễn Xuân H trình bày mức hình phạt Tòa sơ thẩm xử phạt các bị cáo là phù hợp nên các bị cáo xin rút kháng cáo.
Bị cáo Thân Thế Q giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo vì bị cáo là lao động chính, còn có mẹ già.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đề nghị Hội đồng xét xử:
- 1. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Thị T1, Nguyễn Xuân H.
- 2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Thân Thế Q; sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Thân Thế Q 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc”. nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 08 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000đồng để nộp ngân sách nhà nước.
- 3.Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Thị T1, Nguyễn Xuân H,Thân Thế Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị T1, Nguyễn Xuân H xin rút kháng cáo, việc rút kháng cáo của các bị cáo là tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ việc xét xử phúc thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Thân Thế Q:
- [3.1] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định: Buổi sáng ngày 06/01/2024, tại nhà bị cáo T1, bị cáo Thân Thế Q đã tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm cùng các bị cáo trong vụ án là Nguyễn Xuân H, Nguyễn Đức T5, Trần Thị Thùy L2, số tiền các bị cáo dùng đánh bạc là 18.100.000 đồng. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử bị cáo Thân Thế Q về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Cần thiết phải có mức hình phạt tương xứng nhằm đảm bảo công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
- [3.2] Về vai trò bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn. Giữ vai trò đầu là bị cáo T1, là người trực tiếp liên hệ với các bị cáo còn lại để đến nhà đánh bạc cũng như dùng nơi ở của mình cho các bị cáo tham gia sát phạt nhau, trực tiếp chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội và thu tiền hồ. Tiếp đến là vai trò của bị cáo Q có số tiền đánh nhiều nhất, các bị cáo T5, H, L2 có số tiền đánh bạc ít hơn.
- [3.1] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định: Buổi sáng ngày 06/01/2024, tại nhà bị cáo T1, bị cáo Thân Thế Q đã tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm cùng các bị cáo trong vụ án là Nguyễn Xuân H, Nguyễn Đức T5, Trần Thị Thùy L2, số tiền các bị cáo dùng đánh bạc là 18.100.000 đồng. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử bị cáo Thân Thế Q về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
-
- [3.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- [3.4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có mẹ đẻ (bà Hoàng Thị T4) được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B tặng Bằng khen. Tòa sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là phù hợp.
Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo giao nộp giấy tờ về việc bị cáo tự nguyện nộp trước số tiền phạt, tiền án phí là 10.200.000đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng cho các bị cáo.
- [3.5] Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 05 ngày 19/4/1996, số tiền đánh bạc là 73.100 đồng, bị cáo đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích. Theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 thì hành vi đánh bạc với số tiền 73.100 đồng của bị cáo không cấu thành tội phạm. Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo. Do vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục theo Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp, đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Thân Thế Q, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
- [4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Thị T1, Nguyễn Xuân H.Thân Thế Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội do kháng cáo được chấp nhận.
- [5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- 1. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Thị T1,Nguyễn Xuân H.
- 2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thân Thế Q; sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Thân Thế Q 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 08 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000đồng (mười triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp 10.200.000đồng tiền phạt, án phí theo biên lai thu tiền số 0001197 ngày 15/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- 3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Thị T1, Nguyễn Xuân H, Thân Thế Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- 4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thị Luyện |
Bản án số 157/2024/HS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 157/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ÁN HSPT T, H, Q - TỘI ĐÁNH BẠC
