Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AN NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07-6-2024

V/v “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Duy Minh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Minh Chiến;
  2. Ông Hồ Xuân Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mang Đức Kham - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 983/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm: 1990 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố I, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Chị Trần Tuyết N, sinh năm: 2000 (có mặt)

Địa chỉ: Khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, các giai đoạn tố tụng tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Văn D trình bày:

Trước khi cưới, anh và chị Trần Tuyết N có tìm hiểu nhau khoảng hơn 01 năm. Cả hai tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn vào ngày 06 tháng 01 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại nhà cha mẹ anh ở tổ dân phố I, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên kình cãi. Chị N không chăm lo cho gia đình, thường đánh đập con cái. Ngoài ra chị N không chí thú làm ăn nên kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn. Chị N thiếu tôn trọng gia đình bên chồng. Vợ chồng không còn sống chung từ tháng 4 năm 2024 đến nay. Anh xác định không còn tình cảm với chị N nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Vợ chồng có một người con chung là Nguyễn Đức K, sinh ngày 28/6/2022. Hiện nay con chung đang ở với chị N. Anh yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh làm nghề nông và lái xe chở hàng. Thu nhập trung bình một tháng khoảng 10.000.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo các lời khai tại hồ sơ và tại phiên tòa, bị đơn chị Trần Tuyết N trình bày:

Trước khi cưới, chị và anh Nguyễn Văn D có tìm hiểu nhau khoảng hơn 01 năm. Cả hai tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn vào ngày 06 tháng 01 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại tổ dân phố I, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vợ chồng sống bình thường, không có mâu thuẫn gì. Anh Dũng yêu cầu giải quyết ly hôn vì cha mẹ chồng bảo anh D phải ly hôn. Vợ chồng không còn sống chung từ tháng 4 năm 2024 đến nay. Từ khi không còn sống chung, chị đã quay trở lại quê chồng để sống chung nhưng anh D đánh chị nên chị quay về nhà mẹ ruột sống đến nay. Nay anh D yêu cầu ly hôn thì chị đồng ý.

Vợ chồng có một người con chung là Nguyễn Đức K, sinh ngày 28/6/2022. Hiện nay con chung đang ở với chị. Chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng. Thời điểm cấp dưỡng nuôi con từ tháng 4 năm 2024 cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn D và chị Trần Tuyết N.
  • Giao người con chung tên Nguyễn Đức K, sinh ngày 28/6/2022 cho chị Trần Tuyết N trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc anh D phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời điểm cấp dưỡng nuôi con từ tháng 04 năm 2024 đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
  • Về án phí: Anh D1 và chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Anh Nguyễn Văn D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp về nuôi con với chị Trần Tuyết N có địa chỉ cư trú tại khu vực P, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định có thẩm quyền giải quyết vụ án.

[2] Anh D1 và chị N đủ điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn vào ngày 06 tháng 01 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa anh D1 và chị N là hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn và cả hai tự chấm dứt cuộc sống chung từ tháng 4 năm 2024 đến nay. Anh Dũng yêu cầu ly hôn và chị N đồng ý. Do đó, theo quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh D1 và chị N.

[3] Vợ chồng có một người con chung là Nguyễn Đức K, sinh ngày 28/6/2022. Hiện nay con chung đang ở với chị N. Anh Dũng yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, con chung dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Hiện nay cháu K dưới 36 tháng tuổi và chị N yêu cầu trực tiếp nuôi con. Không có căn cứ chứng minh chị N không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung cho chị N tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Dũng yêu cầu trực tiếp nuôi con là không phù hợp với khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[4] Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo quy định tại Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình, anh D1 không sống chung với con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa anh D1 thừa nhận thu nhập trung bình một tháng khoảng 10.000.000 đồng. Căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của anh D1 và nhu cầu thiết yếu của cháu K, Hội đồng xét xử ấn định mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng là phù hợp. Anh D1 và chị N thừa nhận từ tháng 4 năm 2024 đến nay vợ chồng không sống chung và con chung đang sống với chị N nên theo quy định tại Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử ấn định thời điểm cấp dưỡng nuôi con từ tháng 4 năm 2024.

[5] Anh D1 và chị N không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Anh Dũng và chị N thuận tình ly hôn nên theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội mỗi người phải chịu án phí 75.000 đồng. Anh Dũng có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, anh D1 phải chịu án phí 300.000 đồng.

[7] Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 55, Điều 58, khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn D và chị Trần Tuyết N.
  2. Giao người con chung tên Nguyễn Đức K, sinh ngày 28 tháng 6 năm 2022 cho chị Trần Tuyết N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Buộc anh Nguyễn Văn D phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng nuôi con kể từ tháng 4 năm 2024 cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

  1. Không giải quyết về tài sản chung và nợ chung vì các bên không tranh chấp.
  2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn D phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005366 ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn. Anh Nguyễn Văn D còn phải nộp thêm 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng).

Chị Trần Tuyết N phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn D và chị Trần Tuyết N có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã An Nhơn;
  • - Chi cục THADS thị xã An Nhơn;
  • - Phòng KTNV & THA TAND tỉnh Bình Định;
  • - UBND phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn (Giấy CNKH số 01 ngày 06/01/2022);
  • - Lưu: Văn phòng; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Duy Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 157/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Nguyễn Văn D và Trần Tuyết N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger