Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/DS-ST

Ngày: 28 - 6 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Kim Tiến

Bà Lê Thị Xuân Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khang – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 470/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 262/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trương Hoàng L, sinh năm 1960; có mặt.

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1967; có mặt.

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Châu Thị X, sinh năm 1968; có mặt.

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Trương Hoàng L trình bày như sau: Ngày 31/12/2021, do quen biết nên ông Nguyễn Văn B có vay của ông số tiền là 100.000.000đồng, thời gian mượn 06 tháng, lãi suất là 03% tháng nhưng ông B không trả cho ông số tiền lãi nào kể từ ngày vay. Khi vay ông B nói để trang trải cuộc sống gia đình. Tuy nhiên thời gian vay đã lâu ông B không trả cho ông số tiền nào mặc dù ông nhiều lần yêu cầu. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn B và bà Châu Thị X phải liên đới trả cho ông số tiền còn nợ gốc là 100.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

Bị đơn ông Nguyễn Văn B trình bày: Lúc đầu ông có vay bà Nguyễn Thị L1 số tiền 40.000.000đồng nhưng không có tiền trả cho bà L1 trong thời gian dịch covid nên bà L1 có giới thiệu cho ông đến vay ông Trương Hoàng L để vay số tiền 100.000.000đồng. Ông thừa nhận có nợ ông L số tiền 100.000.000đồng nhưng tôi xin trả dần tháng 2.000.000đồng vì hiện nay hoàn cảnh khó khăn, mắc bệnh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Châu Thị X trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Văn B. Việc ông B vay tiền với những người khác bà không biết nên ông B hứa trả cho ông L thì ông B tự trả. Còn bà không có khả năng trả khi nào bà có tiền thì tôi cho tiền ông B trả còn buộc bà cùng liên đới trả thì bà không đồng ý.

Tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày: Việc vay tiền 100.000.000đồng có làm giấy nợ tuy nhiên ông thừa nhận ông B có trả cho ông được tổng cộng là 15.000.000đồng tiền lãi, nay vì hoàn cảnh khó khăn của ông B nên ông tự nguyện cấn trừ số tiền 15.000.000đồng vao tiền gốc 100.000.000đồng. Ông thay đổi yêu cầu khởi kiện xác định chỉ yêu cầu ông B và bà X liên đới trả số tiền 85.000.000đồng. Ông B vay tiền của ông bà X có biết ngoài ra ông B có nói với ông để ông B sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà X đứng tên để bà X vay ngân hàng trả nợ cho ông nhưng khi sang tên bà X thì bà X không liên đới trả nợ cho ông nên ông không đồng ý.

Tại phiên tòa bị đơn ông B trình bày: Ông thừa nhận có ký giấy nợ và còn nợ ông L 100.000.000đồng nhưng ông có đóng lãi cho ông L được 36.000.000đồng, việc đóng tiền lãi không có chứng cứ gì. Nay ông yêu cầu cấn trừ số tiền 36.000.000đồng vào nợ gốc, trường hợp ông L không đồng ý cấn trừ ông cũng không có ý kiến gì. Tại phiên tòa ông L đồng ý cấn trừ 15.000.000đồng và chỉ yêu cầu ông vợ chồng ông trả số tiền 85.000.000đồng ông đồng ý trả nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần mỗi tháng 1.000.000đồng cho đến khi hết số nợ 85.000.000đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An phát biểu:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Tại phiên tòa các đương sự thống nhất ông B vay nợ ông L số tiền 100.000.000đồng. Nguyên đơn ông L thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu ông B và bà X liên đới trả số tiền là số tiền 85.000.000đồng, bị đơn thừa nhận nợ và đồng ý trả nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về yêu cầu ông B và bà X liên đới trả nợ thấy rằng tại phiên tòa bị đơn thừa nhận nợ. Ông B và bà X trình bày vợ chồng ông là hôn nhận hợp pháp, nợ chung phát sinh trong thời kỳ hôn nhân và quá trình giải quyết ông B và bà X không chứng minh được việc số nợ này dùng vào việc cá nhân của ông B nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cần buộc ông B và bà X liên đới trả nợ cho ông L tổng cộng số tiền là 85.000.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Trương Hoàng L khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn ông Nguyễn Văn B nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, bị đơn ông Nguyễn Văn B thường trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý là thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải. Các đương sự đều thống nhất các chứng cứ của vụ án đã được giao nộp đầy đủ và được công khai đúng thủ tục. Qua hòa giải các đương sự đã không thỏa thuận được với nhau, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trương Hoàng L thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu B và bà X liên đới trả số tiền tổng cộng 85.000.000đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Căn cứ “Giấy ký nhận mượn tiền” đề ngày 31/12/2021 thể hiện ông Nguyễn Văn B có vay của ông Trương Hoàng L số tiền là 100.000.000đồng, thời gian mượn 06 tháng, lãi suất là 03% tháng. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông B cũng thừa nhận có vay và đồng ý trả số tiền gốc là 100.000.000đồng như nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên tại phiên tòa, nguyên đơn ông L thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu B và bà X trả số tiền tổng cộng 85.000.000đồng nên đây được xem là các tình tiết sự thật của vụ án, không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92, 93 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Do đó, nguyên đơn ông Trương Hoàng L khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn B trả số tiền vay tổng cộng 85.000.000 đồng, yêu cầu này được ông B đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là sự tự định đoạt của đương sự, có lợi cho bị đơn ông Nguyễn Văn B và được ông B đồng ý nên Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp với Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự.

[2.2] Theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/3/2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An cũng như trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông B, bà X đều trình bày xác định là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1987 nên hôn nhân giữa ông B và bà X là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông L yêu cầu ông B và bà X liên đới trả nợ. Bị đơn ông B trình bày việc vay tiền để tiêu xài cá nhân, trả nợ và quá trình hòa giải ông đồng ý vợ chồng liên đới trả nợ nhưng tại phiên tòa ông B trình bày việc tham gia hụi bà X không biết. Còn bà X trình bày không có khả năng trả khi nào bà có tiền hoặc bán được nhà đất thì bà cho tiền ông B trả còn buộc bà cùng trả thì bà không đồng ý

Hội đồng xét xử thấy rằng, việc tham gia hụi phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, ông B trình bày mục đích vay tiền dùng để chi tiêu cá nhân và trả nợ trong gia định nên căn cứ Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông L, cần buộc ông B và bà X phải có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ hụi tổng cộng là 85.000.000đồng cho ông L là phù hợp với Điều 288, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự.

[2.3] Về yêu cầu tính lãi suất: Các bên không yêu cầu, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Xét về thời hạn trả nợ: Ông B vay tiền đã lâu nhưng không thực hiện trả tiền theo thỏa thuận theo “Giấy ký nhận mượn tiền” đề ngày 31/12/2021, điều này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông L. Ông B và bà X yêu cầu trả dần mỗi tháng 1.000.000đồng nhưng không được nguyên đơn ông L đồng ý. Vì vậy nguyên đơn ông L yêu cầu ông B và bà X trả một lần số tiền trên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Xét đề nghị của kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L nên bị đơn ông B và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà X phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với nghĩa vụ hoàn trả số tiền 85.000.000đồng là 4.250.000đồng theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 288, Điều 463, Điều 466, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Hoàng L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn ông Nguyễn Văn B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Châu Thị X.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn B và bà Châu Thị X phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông Trương Hoàng L số tiền đã vay còn lại là 85.000.000đồng (Tám mươi lăm triệu đồng), theo “Giấy ký nhận mượn tiền” đề ngày 31/12/2021.
  3. Thời hạn và phương thức thanh toán: Trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  4. Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn B và bà Châu Thị X liên đới phải chịu 4.250.000đồng (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước. Ông Nguyễn Văn B và bà Châu Thị X chưa nộp.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông Trương Hoàng L, bị đơn ông Nguyễn Văn B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Châu Thị X có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Đức Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng, hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 157/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Hoàng L "tranh chấp hợp đồng góp hụi" Nguyễn Văn B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger