Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 157/2023/HS-ST

Ngày: 19 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Tươi và bà Hoàng Thị Kim Phượng.

- Thư ký phiên tòa: bà Tống Thị Huê - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Hồng Q sinh năm 1991

Nơi cư trú: số nhà E, đường H, phố L, phường N, thành phố N; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Vinh Q1 ( đã chết) và bà Phạm Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 18/06/2007 Công an phường N, thành phố N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Hồng Q về hành vi “Cố ý gây thương tích”, mức phạt tiền 100.000 đồng; bị tạm giữ từ ngày 10/6/2023 đến ngày 19/6/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Phạm Đức H - Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh N; địa chỉ: số nhà D, ngõ A, đường B, phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Ông Trần Quyết C sinh năm 1955; vắng mặt.
  • + Ông Phạm Hồng N sinh năm 1958; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Hồng Q là người nghiện ma túy. Khoảng 16 giờ ngày 10/6/2023 Q đi bộ từ nhà đến khu vực Công viên núi T thuộc phố T, phường T, thành phố N mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Đến nơi Q gặp một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) hỏi mua ma tuý đá, người này đồng ý mua hộ Q 01 gói ma tuý với giá 500.000 đồng. Q lấy 500.000 đồng trong túi quần ra đưa cho người đàn ông. Người này cầm tiền bảo Q đứng đợi rồi điều khiển xe mô tô đi một lúc sau thì quay lại chở Q đến khu vực ngõ A, đường H, phố T, phường T, thành phố N dừng xe chỉ tay vào 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng được để cạnh gốc cây nơi Q đang đứng và bảo Q kiểm tra rồi điều khiển xe đi. Q hiểu ý người đàn ông nói ma túy đang để trong bao thuốc lá Thăng L nên đi đến cầm lên kiểm tra thấy bên trong có 01 túi nilon màu trắng miệng túi có viền màu đỏ kích thước ( 4x7) cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Q xác định đó là ma tuý và cầm ở tay trái rồi đi bộ đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày Tổ công tác Công an phường T, thành phố N tuần tra kiểm soát trên địa bàn thấy Q có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Lúc này Q tự giác giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và khai nhận bên trong có ma tuý Q vừa mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ niêm phong vật chứng theo đúng quy định của pháp luật và đưa Q cùng vật chứng về trụ sở Công an phường T, thành phố N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Phạm Hồng Q có khối lượng là 0,795 gam ký hiệu M gửi đi giám định để xác định khối lượng chất ma túy, loại chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 493/KL- KTHS-MT ngày 16/6/2023 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M gửi giám định có khối lượng 0,7864 gam, là ma túy loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II C, số thứ tự 247; Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,7047 gam, là ma túy loại Methamphetamine, cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong trong một phong bì ghi số 493/KL-KTHS-MT theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra xác định Phạm Hồng Q đã điều trị tại Bệnh viện T1 và Bệnh viện T2. Ngày 29/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 167 trưng cầu Viện giám định pháp y tâm thần Trung ương để giám định trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Phạm Hồng Q có bị bệnh tâm thần hay không. Khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của Phạm Hồng Q tại các thời điểm trên như thế nào?.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 343 ngày 03/10/2023 của V kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị cáo Phạm Hồng Q có Hội chứng nghiện chất gây ảo giác. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F16.2. Tại các thời điểm trên bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình quản lý: 0,7047 gam, là ma túy loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong trong một phong bì ghi số 493/KL-KTHS-MT; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu.

Cáo trạng số 148/CT-VKS ngày 15 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Hồng Q về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :

  • - Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Hồng Q từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi 9 ngày tạm giữ từ ngày 10/6/2023 đến ngày 19/6/2023.
  • - Về vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 0,7047 gam là ma túy, loại Methamphetamine, cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong trong một phong bì ghi số 493/KL-KTHS-MT; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu.
  • - Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Hồng Q phải nộp án phí hình sự.

Người bào chữa của bị cáo Phạm Hồng Q trình bày: Bị cáo Q bị khởi tố, truy tố về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng pháp luật. Bị cáo phạm tội có động cơ mục đích và tính chất phạm tội giản đơn. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và người phạm tội có nhược điểm về tâm thần. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Q mức án nhẹ hơn mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Hồng Q khai nhận: khoảng 16 giờ 45 phút ngày 10/6/2023 tại khu vực ngõ A, đường H, phố T, phường T, thành phố N, bị cáo đang cầm 01 gói ma túy Methamphetamine vừa mua của của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ có giá 500.000 đồng đi tìm nơi sử dụng thì bị Tổ công tác Công an phường T yêu cầu kiểm tra. Bị cáo tự giác giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng tổ công tác và khai nhận bên trong có ma tuý bị cáo vừa mua về để sử dụng.

Trong quá trình điều tra người làm chứng là ông Trần Quyết C và ông Phạm Hồng N khai báo: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 10/6/2023 tại khu vực ngõ A, đường H, phố T, phường T, thành phố N, các ông nhìn thấy bị cáo Q tự giác giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng cho Tổ công tác Công an phường T và khai nhận bên trong có ma tuý Q vừa mua của một người đàn ông không quen biết với giá 500.000 đồng để sử dụng cho bản thân.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa bị cáo Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 10/6/2023 tại khu vực ngõ A, đường H, phố T, phường T, thành phố N, Phạm Hồng Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,7864 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép các chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo Q đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...”

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

  • - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng đã 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, cải tạo thành người công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu 1 phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo Q phạm tội không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy: Phạm Hồng Q không biết cụ thể tên, tuổi, địa chỉ, năm sinh và không nhớ biển số xe người đàn ông bán ma túy cho Q tại khu vực Công viên núi T thuộc phố T, phường T, thành phố N nên không có cơ sở điều tra xác minh làm rõ.

[2] Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy tịch thu tiêu hủy 0,7047 gam, là ma túy, loại Methamphetamine, cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong trong một phong bì ghi số 493/KL-KTHS-MT là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu là vật không có giá trị sử dụng theo quy định tại Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về án phí và quyền kháng cáo:

  • - Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Quyền kháng cáo: bị cáo và người bào chữa có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[5] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng Q phạm tội “ tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Hồng Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án phạt tù, được trừ đi 9 ngày bị tạm giữ từ ngày 10/6/2023 đến ngày 19/6/2023.

  1. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 0,7047 gam là ma túy loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong trong một phong bì ghi số 493/KL-KTHS-MT; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1; phong bì, vỏ túi niêm phong ban đầu được niêm phong trong phong bì có ghi thông tin.

(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/ 11/ 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

  1. Về án phí: bị cáo Phạm Hồng Q phải nộp 200.000 đồng ( hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: bị cáo và người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 19/12/2023).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố Ninh Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - Chi cục THA DS thành phố Ninh Bình;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra và Cơ quan THAHS Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 157/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hồng Q phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy "
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger