|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1561/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 16 - 6 - 2025.
V/v Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Chi.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Lợi.
- Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân
dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ
Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc B – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm thụ lý số: 961/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5148/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Ly L, sinh năm: 1992.
- Bị đơn: Ông Dương Quốc C, sinh năm: 1985.
Cùng địa chỉ: A Đường số A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bà L và ông C cùng có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 08/4/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Ly L trình bày:
Năm 2018, bà L và ông C chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 110 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 31/8/2018. Việc chung sống với nhau là hoàn toàn tự nguyện.
Trong thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, dù đã nhiều lần cùng nói chuyện nhưng không giải quyết được. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không còn hạnh phúc, không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông C.
Về con chung: Bà L và ông C có 01 con chung là Dương Vịnh T, sinh ngày 05/5/2019. Bà L yêu cầu trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu ông C cấp dưỡng cho con số tiền 7.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: T1 khai không có.
Bị đơn ông Dương Quốc C trình bày:
Ông C xác nhận lời trình bày của bà L về thời điểm chung sống, quan hệ hôn nhân. Ông C không đồng ý ly hôn vì mong muốn có thêm thời gian để 02 vợ chồng thay đổi trong cách nghĩ, tiếp tục giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chung sống.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Do không đồng ý ly hôn nên ông C không có ý kiến hay yêu cầu về con chung, tài sản chung, nợ chung. Về nghề nghiệp, ông C hiện nay là kỹ sư xây dựng, hành nghề tự do, thu nhập trung bình khoảng 25.000.000 đồng/tháng. Nếu Tòa buộc phải ly hôn, ông C chấp nhận giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi, đồng ý cấp dưỡng nuôi con 7.000.000 đồng/tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn, giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi, ghi nhận sự tự nguyện của ông C về việc cấp dưỡng nuôi con chung 7.000.000 đồng/tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Bà Lê Ly L yêu cầu ly hôn với ông Dương Quốc C, căn cứ quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp ly hôn”. Ông C cư trú tại thành phố T, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Ly L có mặt, bị đơn ông Dương Quốc C có mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định bà Lê Ly L và ông Dương Quốc C tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, thể hiện tại bản chính Giấy chứng nhận kết hôn số 110 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 31/8/2018. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông C là hôn nhân hợp pháp.
[3.2] Về yêu cầu ly hôn của bà Lê Ly L: Từ ý kiến trình bày của các bên đương sự, Hội đồng xét xử nhận định, mâu thuẫn gia đình giữa bà L và ông C là trầm trọng, mặc dù ông C mong muốn được đoàn tụ gia đình và cam kết sẽ thay đổi cách cư xử để tránh những va chạm xảy ra giữa bà L và ông C nhưng bà L vẫn kiên quyết xin ly hôn. Theo bà L thì giữa bà L và ông C quá khác biệt về cá tính, quan điểm sống. Thời gian đầu thì bà L còn mong muốn ông C sửa đổi tính nết để vợ chồng sống hòa thuận, cùng chăm lo cho con nhưng mâu thuẫn gia đình kéo dài cho đến thời điểm này thì bà L hoàn toàn dửng dưng, không còn quan tâm, không còn mong muốn, chờ đợi gì ở ông C nữa. Điều đó cho thấy tình cảm yêu thương và lòng tin của bà L đối với ông C không còn. Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.
[3.3] Ông C đề nghị bác đơn ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử nhận định: Bà L và ông C đã tự giải quyết mâu thuẫn gia đình bằng nhiều biện pháp: Từ cách trao đổi trực tiếp, nhờ gia đình hai bên tác động nhưng đến nay vợ chồng đã không còn có thể trao đổi thẳng thắn với nhau được nữa. Thực tế thì bà L và ông C tuy sống chung một nhà nhưng đã tự ly thân. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã động viên bà L đoàn tụ gia đình với ông C nhưng bà L kiên quyết xin ly hôn, thậm chí, nếu Tòa bác đơn ly hôn của bà L thì bà L vẫn không chấp nhận đoàn tụ với ông C và sẽ tiếp tục nộp đơn ly hôn. Xét thấy, hạnh phúc gia đình phải được vun đắp, xây dựng từ cả hai phía, trong khi ông C mong muốn được đoàn tụ gia đình nhưng bà L vẫn kiên quyết giữ yêu cầu ly hôn, nếu kéo dài đời sống hôn nhân sẽ không mang đến hạnh phúc cho các thành viên trong gia đình. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của ông C về việc bác đơn ly hôn của bà L.
[3.4] Về con chung: Bà L và ông C có con chung tên Dương Vịnh T, sinh ngày 05/5/2019. Bà L yêu cầu trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu ông C cấp dưỡng cho con số tiền 7.000.000 đồng/tháng. Ông C xác định, về nghề nghiệp, ông C hiện nay là kỹ sư xây dựng, hành nghề tự do, thu nhập trung bình khoảng 25.000.000 đồng/tháng. Nếu Tòa buộc phải ly hôn, ông C chấp nhận giao bà L nuôi con chung, đồng ý cấp dưỡng nuôi con 7.000.000 đồng/tháng. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung cho bà L nuôi, ghi nhận sự tự nguyện của ông C về việc cấp dưỡng nuôi con 7.000.000 đồng/tháng.
[3.5] Về tài sản chung: Bà L và ông C không yêu cầu Tòa giải quyết.
[3.6] Về nợ chung: Bà L và ông C tự khai không có.
[4] Về án phí: Bà L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do phải cấp dưỡng nuôi con chung nên ông C phải nộp tiền án phí.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Ly L:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Ly L được ly hôn với ông Dương Quốc C.
- Về con chung: Giao con chung tên Dương Vịnh T, sinh ngày 05/5/2019 cho bà L trực tiếp nuôi, ghi nhận sự tự nguyện của ông C về việc cấp dưỡng cho con số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, giao nhận tiền trực tiếp hoặc tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, vào ngày đầu của mỗi tháng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho bên được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi và giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà L và ông C không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về nợ chung: Bà L và ông C tự khai không có.
- Về án phí:
- - Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Lê Ly L phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0072799 ngày 21/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà L đã nộp đủ tiền án phí.
- - Ông Dương Quốc C phải chịu tiền án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, Ông C chưa nộp tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo:
- - Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Trúc Chi |
Bản án số 1561/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1561/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: "Tranh chấp ly hôn" giữa nguyên đơn bà Lê Ly L và bị đơn ông Dương Quốc C
