|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 156/2024/DS-PT Ngày: 30-9-2024 “V/v: T/c chia di sản thừa kế” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Quý Sửu và bà Lê Thị Hồng Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thủy- Kiểm sát viên.
Ngày 25 và ngày 30/9/2024,tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 102/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp di sản thừa kế”.Do bản án dân sự sơ thẩm 43/2024/DS - ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 166/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ dân phố số I, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hoài N, sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên(có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Vũ Văn C và ông Nguyễn Đức N1 – Luật sư,thuộc Công ty L1, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị L, sinh năm 1959; Địa chỉ: Tổ A(nay ở Tổ C), phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
+ Bà Trần Thị V, sinh năn 1963; Địa chỉ: Tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
+ Bà Trần Thị V1, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ C, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà V1: Ông Lê Quang N2, ông Nguyễn Công Q – Luật sư Văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt).
+ Bà Trần Thị H1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ H, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
+ Ông Trần Bá P (tên gọi ở nhà là S), sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ A, phường P, thành phố T, tỉnhThái Nguyên (có mặt).
+Chị Trần Thị Thanh H2, sinh năm 2001; Địa chỉ: Tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (con bà N2, có mặt).
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Hoài N, chị Trần Thị Thanh H2 và bà Trần Thị Vi .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của Toà án cấp sơ thẩm; nội dung kháng cáo như sau:
Nguyên đơn bà Trần Thị H khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên giải quyết những nội dung sau:
- Huỷ hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 21/10/2013 giữa bà Phan Thị N3 với ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị Hoài N lập tại UBND phường P, thành phố T.
- Kiến nghị cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị Hoài N thu hồi và điều chỉnh sự biến động đối với diện tích đất được tách từ thửa 143, tờ bản đồ số 7 thuộc phường P.
- Chia di sản thừa kế của bố mẹ bà theo quy định của pháp luật đối với thửa số 143 tờ bản đồ số 07, diện tích là 3.512 m² đất trong đó có 210 m² đất ởvà 2.097 m² đất cây lâu năm và tài sản trên thửa đất này thuộc phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Về đất nông nghiệp: 5.225 m² đất trồng lúa (13 thửa) bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Căn cứ khởi kiện của bà H và quan điểm của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn Bà Trần Thị L, bà Trần Thị H1, ông Trần Bá P: Bố chúng tôi là ông Trần Bá T, sinh năm 1935 (chết năm 1988), mẹ chúng tôi là bà Phan Thị N3, sinh năm 1937 (chết năm 2022). Bố mẹ bà sinh được 7 người con là: Trần Thị L, sinh năm 1959; Trần Thi H4, sinh năm 1962; Trần Thị V, sinh năn 1963; Trần Thị V1, sinh năm 1966; Trần Thị H1, sinh năm 1968; Trần Bá P (Tên thường gọi là S), sinh năm 1971; Trần Văn H3, sinh năm 1974 (chết năm 2014), có vợ là Nguyễn Thị Hoài N và 01 con gái là Trần Thị Thanh H2. Bố mẹ chúng tôi không có con nuôi hay con riêng nào, khi chết 2 cụ không để lại di chúc. Di sản bố mẹ chúng tôi để lại gồm có các thửa đất sau:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ bà Phan Thị N3 do UBND thành phố T cấp ngày 30/12/2005 (số đất trên là do bố mẹ bàkhai phá vào năm 1961) có thửa số 143, tờ bản đồ số 07, diện tích là 3.512 m² đất. Trong đó có 150 m² đất ở đô thị và 3.362 m² đất cây lâu năm thuộc phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ bà Phan Thị N3 do UBND thành phố T cấp ngày 02/12/1998, có 19 thửa đất, tờ bản đồ số 04, 05, và 07 với tổng diện tích 8.575 m² đất thuộc phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Tổng 19 thửa đất này đã trả lại cho những người con, nay chỉ còn 13 thửa với 5.225 m² đất).
Ngày 21/10/2013, bà Phan Thị N3 đã tự ý lập hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho ông Trần Văn H3 là (con trai), bà Nguyễn Thị Hoài N (vợ ông H3) 1.067 m² đất và tài sản trên đất là căn nhà của bố mẹ chúng tôi, có công sức của anh chị em chúng tôi đóng góp xây dựng, sửa chữa để cho bố mẹ chúng tôi ở mà không có sự bàn bạc và thống nhất của các đồng thừa kế được chứng thực của UBND phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 28/4/2014, UBND thành phố T cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Phan Thị N3. Việc chuyển đổi đứng tên hộ gia đình sang tên
3
bà N3 là do bà N3 tự ý mà không có sự bàn bạc và thống nhất của các đồng thừa kế chúng tôi.
Năm 2018 đến năm 2019, bà N3 lại tự ý cho tặng vợ ông H3 là bà Nguyễn Thị Hoài N đất ruộng.Chị em bà biết sự việc nên đã viết đơn gửi lên UBND phường P. UBND phường P đã mời gia đình chúng tôi lên UBND phường để hòa giải nhưng không được nên đã trả lời đơn kiến nghị của chị em chúng tôi là UBND phường không đủ thẩm quyền và đã chuyển đơn lên Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên để giải quyết.
Ngày 20/11/2019, Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với lý do chưa đủ điều kiện khởi kiện.
Hiện nay, toàn bộ ngôi nhà cấp 4 lợp ngói với diện tích 1.067 m² được vợ ông H3 là bà Nguyễn Thị Hoài N đang quản lý, sử dụng.
Khi bố chúng tôi chết không để lại di chúc nên những thửa đất trên là di sản chưa được chia, mẹ chúng tôi tự ý định đoạt cả phần tài sản của bố chúng tôi mà không có sự nhất trí của các anh chị em chúng tôi là đã xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế chúng tôi.
Chúng tôi thấy việc bà N3 lập hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất cho ông H3 và bà N là có sự thông đồng với cán bộ địa chính phường P năm 2013 là ông Nguyễn Văn T1 và chủ tịch UBND phường P là ông Trương Văn H5 bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất: Mẹ chúng tôi không biết chữ, trong khi đó đơn đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất ghi ngày 26/10/2013 có chữ ký và ghi họ và tên mà không có điểm chỉ được UBND phường P, thành phố T xác nhận.
Thứ hai: Hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất giữa mẹ chúng tôi bà Phan Thị N3 với ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị Hoài N không ghi ngày, vào tháng 5 năm 2013 có chữ ký và ghi họ tên của mẹ chúng tôi mà không có điểm chỉ được UBND phường P, thành phố T xác nhận.
Thứ ba: Biên bản kiểm tra hiện trạng hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất giữa mẹ chúng tôi bà Phan Thị N3 với ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị Hoài N không ghi ngày, của tháng 5 năm 2013 có chữ ký và ghi họ tên của mẹ chúng tôi mà không có điểm chỉ được UBND phường P, thành phố T xác nhận.
Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Hoài N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị Thanh H6 toàn bộ quá trình giải quyết vụ ánvắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến, nguyện vọng.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị V và bàTrần Thị V2 trình bày: Các bà nhất trí với ý kiến trình bày về việc bố mẹ chúng tôi sinh được 7 người con, như lời trình bày của bà H4. Năm 2013, mẹ chúng tôi là bà Phan Thị N3, có cho em trai tôi là Trần Văn H3 và em dâu là Nguyễn Thị Hoài N mảnh đất để ở và canh tác. Đến năm 2015, em tôi là Trần Văn H3 chết, em dâu và cháu gái vẫn tiếp tục sinh sống tại thửa đất nêu trên. Việc chính quyền địa phương làm thủ tục tách thửa và cấp bìa cho gia đình em trai tôi được thực hiện đúng quy
4
định pháp luật. Chúng tôi đồng quan điểm với việc cho tặng đất của mẹ chúng tôi, việc bà H4 làm đơn khởi kiện chúng tôi không nhất trí.
Với nội dung trên,tại bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định: Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, 39, 147, 227, 235, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 212, 213, 218, 219, 221, 649, 650, 651, 652 và Điều 660 của Bộ luật dân sự; Căn cứ các Điều 167, 169, 179, 188, 203 của Luật đất đai năm 2013; Căn cứ các Điều 61, 66 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H.
- Hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 21/10/2013 giữa bà Phan Thị N3 với ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị Hoài N lập tại UBND phường P, thành phố T bị vô hiệu.
- Buộc bà N phải nộp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị Hoài N thu hồi.
-
Chia di sản thừa kế theo pháp luật Thửa số 143, tờ bản đồ số 07, diện tích là 3.512 m² cho: Trần Thị L, sinh năm 1959; Trần Thị H, sinh năm 1962; Trần Thị V, sinh năm 1963; Trần Thị V1, sinh năm 1966;Trần Thị H1, sinh năm 1968; Trần Bá P (Tên thường gọi là S), sinh năm 1971; Trần Văn H3, sinh năm 1974 (Chết năm 2014), có vợ là Nguyễn Thị Hoài N và 01 con gái là Trần Thị Thanh H2. Mỗi người được 500,514 m² đất tại thửa đất số: 143, tờ bản đồ số: 7 tại phường P, thành phố T. Trong đó có 21,42 m² đất thổ cư và 479,00 m² đất trồng cây lâu năm, cụ thể:
- Bà Trần Thị L được quyền sử dụng 500 m² đất tại thửa đất số: 143, tờ bản đồ số: 7 tại phường P, thành phố T. Trong đó có 21,42 m² đất thổ cư và 478,58 m² đất trồng cây lâu năm tương ứng 286.781.000 đồng. Vị trí đất có các mốc: 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 41, 7 có sơ đồ kèm theo.
- Bà Trần Thị H được quyền sử dụng 497 m² đất tại thửa đất số: 143, tờ bản đồ số: 7 tại phường P, thành phố T. Trong đó có 21,42 m² đất thổ cư và 475,58 m² đất trồng cây lâu năm tương ứng 285.131.000 đồng. Vị trí đất có các mốc: 7,41,37,38,39,40,3,4,5,6,7 có sơ đồ kèm theo.
- Bà Trần Thị H1 được quyền sử dụng 500 m² đất tại thửa đất số: 143, tờ bản đồ số: 7 tại phường P, thành phố T. Trong đó có 21,42 m² đất thổ cư và 478,58 m² đất trồng cây lâu năm tương ứng 286.781.000 đồng. Vị trí đất có các mốc: 37,41,14,15,16,42,25,26,27,37 có sơ đồ kèm theo. Trên đất có ngôi nhà cấp 4 xây dựng năm 1980 có diệntích 63 m² đã hết khấu hao (Nhà do bà N3 xây).
- Bà Trần Thị V được quyền sử dụng 502,7 m² đất tại thửa đất số: 143, tờ bản đồ số: 7 tại phường P, thành phố T. Trong đó có 21,42 m² đất thổ cư và 481,28 m² đất trồng cây lâu năm tương ứng288.266.000 đồng. Vị trí đất có các mốc: 42, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 43, 42có sơ đồ kèm theo. Trên đất có ngôi nhà
5
cấp 4 xây dựng năm 2017 có diện tích 50 m² có giá trị 417.142.708 đồng (Nhà do bà N3 xây).
- Ông Trần Bá P được quyền sử dụng 500,3 m² đất tại thửa đất số: 143, tờ bản đồ số: 7 tại phường P, thành phố T. Trongđó có 21,42 m² đất thổ cư và 478,88 m² đất trồng cây lâu năm tương ứng 286.946.000 đồng. Vị trí đất có các mốc: 25, 42, 43, 22, 23, 24, 25 có sơ đồ kèm theo. Trên đất có ngôi nhà cấp 4 xây dựng năm 2017 có diện tích 79,2 m²(Nhà do ông P tự xây).
- Bà Trần Thị V1 được quyền sử dụng 503,6 m² đất tại thửa đất số: 143, tờ bản đồ số: 7 tại phường P, thành phố T. Trong đó có 21,42 m² đất thổ cư và 478,58 m² đất trồng cây lâu năm tương ứng 288.761.000 đồng. Vị trí đất có các mốc: 34, 38, 37, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34 có sơ đồ kèm theo.
- Bà Trần Thị Thanh H2, bà Nguyễn Thị Hoài N được quyền sử dụng 500 m² đất tại thửa đất số: 143, tờ bản đồ số: 7 tại phường P, 2 thành phố T (Chị H2 được ¼ kỷ phần tương đương với 376,3 m², phần của bà N là 135,4 m²). Trong đó có 21,42 m² đất thổ thổ cư và 478,58 m² đất trồng cây lâu năm tương ứng 286.781.000 đồng. Vị trí đất có các mốc: 1, 2, 3, 40, 39, 38, 34, 35, 1 có sơ đồ kèm theo. Trên đất có ngôi nhà cấp 4 xây dựng năm 1986 có diện tích 61,75 m² có giá trị 50.536.200 đồng (Nhà do bà N3 và các đồng thừa kế xây)...”.Vị trí và mốc giới có sơ đồ kèm theo.
Bà L, bà H, bà V, bà V1, bà H1, ông P, bà H2 có quyền đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành án sẽ bị thi hành theo Luật thi hành án Dân sự.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Trần Thị L, bà Trần Thị H, bà Trần Thị V là người cao tuổi không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả lại bà Trần Thị H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu số: 0000296 ngày 15/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- Bà Trần Thị V1 phải chịu 14.438.050 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm; bà Trần Thị H1 phải chịu 14.339.050 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và ông Trần Bá P phải chịu 13.347.300 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm; Bà Trần Thị Thanh H2 phải chịu12.649.395 đồng; bà Nguyễn Thị Hoài N phải chịu 4.216.465 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày26/6/2024,bị đơn là bà Nguyễn Thị Hoài N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Thanh H2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm 43/2024/DS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên do vi phạm tố tụng và đánh giá chứng cứ.
Ngày 28/6/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị V1 và bà Trần Thị V cùng kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Với lý do việc xem xét,
6
đánh giá chứng cứ chưa khách quan, toàn diện, chia đất cho bà V1 vào phần diện tích đã được cấp giấy chứng nhận của bà N là gây thiệt hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của bà, khó khăn trong việc thi hành án, đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà N rút một phần kháng cáo về việc Tòa án sơ thẩm đã vi phạm về thủ tục tố tụng trong tống đạt và xét xử vắng mặt bà và chị H2; S1 kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm 43/2024/DS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên theo hướng: Công nhận Hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 20/5/2013 giữa bà Phan Thị N3 với ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị Hoài N lập tại UBND phường P, thành phố T; không buộc bà phải nộp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và công nhận quyền sở hữu đối với thửa đất cho bà; Chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất số 143, tờ bản đồ số 07, diện tích là 2.307 m² theo quy định của pháp luật. Với các căn cứ: Cụ N3 có toàn quyền định đoạt phần diện tích thuộc phần của mình trong khối tài sản chung của cụ với cụ T, theo luật hôn nhân gia đình. Do vậy, việc Tòa án sơ thẩm hủy Hợp đồng tặng cho giữa cụ N3 và ông H3, bà N là không có cơ sở. Nên việc buộc bà N phải nộp lại Giấy CNQSDĐ cũng là không có căn cứ; chị H2 là người thừa kế thế vị của ông H3 (đã chết năm 2014) phải được hưởng 1 kỷ phần.
Tại phiên toà phúc thẩm, chị H2, bà V1 đều sửa đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm như đề nghị của bà N.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà N và chị H2 tranh luận:
(+) Các đương sự đều xác định toàn bộ diện tích 3.512m² đất, thửa 143 TBĐ số 7, cụ Phan Thị N3 được cấp giấy CNQSD đất lần đầu ngày 30/12/2005 là do cụ ông Trần Bá T (chết năm 1988) và cụ bà Phan Thị N3 (chết năm 2022) khai phá năm 1960. Thời điểm này bà L mới có 2 tuổi, còn các thừa kế khác chưa được sinh ra nên các thừa kế đều không có công sức gì đối với thửa đất. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận QSDĐ năm 2005 là bìa hộ, nhưng không bao gồm các thừa kế; (+) Năm 2013, cụ N3 tặng cho ông H3, bà N 1.067m² đất. Vợ chồng ông H3 đã ra ở riêng trên đất mà các đồng thừa kế đều không có ý kiến gì, đến năm 2023 mới làm đơn khởi kiện; (+) Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên HĐ tặng cho vô hiệu là không có căn cứ, vì cụ N3 đã định đoạt trong phần tài sản của cụ. Căn nhà trên đất không có căn cứ nào xác định do các thừa kế xây năm 1986, mà chỉ do các đương sự tự khai, tài sản này hiện vẫn do gia đình bà N sử dụng; (+) Kỷ phần chị H2 được hưởng, chị tự nguyện tặng cho bà V, bà V1 mỗi người 50m²; (+) Đề nghị HĐXX sửa bản án sơ thẩm: Công nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà N (đất đã được cấp GCNQSD đất). Bác yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho. Phân chia phần diện tích đất thừa kế còn lại theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà V1 đồng thuận với quan điểm tranh luận của phía bị đơn: Việc Tòa án cấp sơ thẩm hủy Hợp đồng tặng cho là làm trái với ý nguyện của cụ N3, mặc dù việc tặng cho không có biên bản họp gia đình, nhưng đến trước khi chết năm 2022 cụ N3 cũng không có yêu cầu thay đổi về phần đất đã tặng cho anh H3, chị N trước đó; Diện tích đất tại thửa 143 là của cụ N3 và cụ T. Thời hiệu chia thừa kế của cụ T đã hết, khi cụ T chết thì đất
7
còn chưa được cấp quyền sử dụng đất; Việc cấp bìa hộ không có nghĩa là có các đồng thừa kế có quyền trong đó. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà N, bà V1, bà V sửa bán ản sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự,những người tham gia tố tụng chấp hành và thực hiện đúng, đầy đủ quy định của BLTTDS.
- Quan điểm giải về quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát:
+ Bà Nguyễn Thị Hoài N và chị Trần Thị Thanh H2, xác định không nhận được giấy triệu tập của Tòa án đến tham dự phiên tòa. Thấy rằng việc Tòa án nhân dân TP. Thái Nguyên không triệu tập đương sự đến phiên tòa sơ thẩm là không đúng quy định pháp luật, tuy nhiên xét thấy quyền lợi của bà N và chị H2 vẫn được thực hiện đầy đủ. Do vậy, bà N và chị H2 xin rút nội dung kháng cáo này, nên được chấp nhận.
+ Cần ghi nhận sự tự nguyện của chị H2 về việc tự nguyện tặng cho và giảm trừ một phần diện tích đất cây lâu năm, trong kỷ phần của mình sang cho bà V, bà V1, ông P; và việc bà N tự nguyện hiến 1 phần đất cây lâu năm tại thửa 1522 để làm đường đi chung cho các đồng thừa kế.
+ Xét nội dung kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Hoài N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị V, Trần Thị V1 và chị Trần Thị H2 đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ N3 với ông H3, bà N và chia thừa kế theo pháp luật là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị HĐXX, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bà N, bà V, bà V1, chị H2. Sửa bản án sơ thẩm 43/2024/DS - ST ngày 22/5/2024của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên theo hướng: Công nhận Hợp đồng tặng cho và chia thừa kế theo pháp luật đối với phần diện tích đất còn lại của cụ N3, cụ T theo quy định pháp luật.
Án phí phúc thẩm: Bà N, bà V, bà V1, chị H2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được trả lại 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp; các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên kỷ phần được hưởng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:
[1.].Về chấp hành pháp luật tố tụng dân sự: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hoài N, bà Trần Thị V1, bà Trần Thị V, chị Trần Thị Thanh H2 đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Xét nội dung kháng cáo của bà N, chị H2, bà V, bà V1.
[2.].Các đương sự đều thừa nhận có các sự kiện sau đã xảy ra:
[2.1.]. Cụ Trần Bá T, sinh năm 1935 (chết năm 1988) và cụ Phan Thị N3, sinh năm 1937 (chết năm 2022) sinh được 7 người con là: Trần Thị L, sinh năm 1959; Trần Thị H, sinh năm 1962; Trần Thị V, sinh năn 1963; Trần Thị V1, sinh năm 1966; Trần Thị H1, sinh năm 1968; Trần Bá P (tên ở nhà là S), sinh năm 1971; Trần
8
Văn H3, sinh năm 1974 (chết năm 2014), có vợ là Nguyễn Thị Hoài N và 01 con gái là Trần Thị Thanh H2; Đồng thời, hai cụ không có con nuôi hay con riêng nào, khi chết 2 cụ đều không để lại di chúc.
[2.2.]. Diện tích 3.512 m² đất (trong đó có 150 m² đất ở đô thị và 3.362 m² đất cây lâu năm), thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 07 phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu ngày 30/12/2005, mang tên hộ bà Phan Thị N3 là tài sản chung của cụ N3 và cụ T tự khai phá từ năm 1960, đã được UBND phường P xác nhận năm 1993, được thể hiện tại tờ bản đồ 299 số 15, thửa T 280, diện tích 2440 m². Các đương sự không ai có công sức gì vào thửa đất này.
[2.3.].Ngày 20/5/2013, cụ Phan Thị N3 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho ông Trần Văn H3 là (con trai) và bà Nguyễn Thị Hoài N (vợ ông H3) 1.067m² đất và ngôi nhà là tài sản trên đất, được UBND phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên chứng thực. Ngày 05/7/2013, ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị Hoài N đã được cấp giấy CNQSD đất thửa đất 1522, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.067m² (trong đó có 40m² đất ở đô thị, 1027m² đất trồng cây lâu năm). Ngày 28/4/2014, cụ N3 được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 502426, thửa đất 143, tờ bản đồ số 07, diện tích là 2.307 m² (trong đó có 210 m² đất ở đô thị và 2.097 m² đất cây lâu năm) mang tên bà Phan Thị N3.
[2.4.]. Do vậy, các sự kiện trên là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3.].Theo quy định về tài sản chung trong Luật hôn nhân gia đình năm 1986, 2000, 2014 thì tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Thửa đất 143, tờ bản đồ số 07, diện tích 3.512 m² là do cụ T và cụ N3 cùng khai phá năm 1960 là tài chung của hai cụ. Năm 1988, cụ T chết không để lại di chúc, nên thửa đất 143 được xác định là tài sản chung theo phần sau khi cụ T chết, không còn là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng. Cụ N3 có toàn quyền định đoạt 1/2 tài sản là phần của mình trong khối tài sản chung của hai cụ, mà không phụ thuộc vào sự đồng ý của các đồng thừa kế khác của cụ T theo Luật hôn nhân gia đình.
[4.]. Ngày 20/5/2013, cụ N3 đã tặng cho vợ chồng ông H3, bà N 1.067m² đất, trên tổng diện tích 3.512 m² tại thửa đất số 143,tờ bản đồ số 7. Kỷ phần tài sản thuộc quyền sở hữu của cụ N3 trong thửa đất 143 là 1.756m². Phần diện tích đất cụ tặng cho vợ chồng ông H3 là chưa vượt quá phần tài sản thuộc quyền sở hữu của cụ. Hợp đồng tặng cho này đã được các bên thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, tại Điều 467, Điều 692 và từ Điều 722 đến Điều 725 của Bộ luật dân sự năm 2005 và quy định tại khoản 1 Điều 106; điểm b khoản 1 Điều 129 Luật Đất đai năm 2003. Ngày 05/7/2013, ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị Hoài N đã được cấp giấy CNQSD đất số BP 466414, thửa đất 1522, tờ bản đồ số 7, diện tích 1067m² (trong đó có 40m² đất ở đô thị, 1027m² đất trồng cây lâu năm) theo quy định tại Điều 725 của Bộ luật dân sự năm 2005. Do vậy, việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho là cụ Phan Thị N3 (Bên A), bên nhận tặng cho là ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị Hoài N (Bên B) đã có hiệu lực pháp
9
luật, buộc các bên phải thực hiện. Mặt khác, kể từ khi tặng cho đến năm 2018 khi bà H có tranh chấp và đến trước khi cụ N3 mất năm 2022 thì giữa cụ N3 và vợ chồng ông H3, bà N không phát sinh tranh chấp và cụ N3 cũng chưa bao giờ đưa ra ý kiến đòi lại hay có văn bản đề nghị hủy hợp đồng tặng cho này. Như vậy, ý trí của người tặng cho tài sản và người nhận tài sản được tặng cho là đồng thuận, không xung đột.
[5.] Việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các nhận định sau: “...Đến năm 2005 bà N3 làm thủ tục kê khai để U cấp giấy CNQSD đất mà không có sự đồng ý của các đồng thừa kế là không đúng quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng thừa kế, cần kiến nghị U thu hồi...;...Tại Điều 6 (Điều khoản cuối cùng) của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất Bên A (Ký ghi rõ họ tên): Người chồng ghi tài sản riêng; Người vợ đã ký (N3. Phan Thị N3). Việc ghi tài sản riêng là không đúng. Mặt khác trên đất có nhà xây năm 1986...là tài sản chung của các đồng thừa kế như bà L, bà H cùng có công sức đóng góp tôn tạo ....Bà N3 tặng cho là vượt quá tài sản của bà mà không có sự đồng ý của họ đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người có công sức đóng góp tôn tạo ngôi nhà” để từ đó tuyên bố hợp đồng tặng cho lập ngày 20/5/2013, giữa cụ N3 và vợ chồng ông H3, bà N không hợp pháp và bị vô hiệu là không đúng, pháp luật, trái với ý trí và nguyện vọng của người tặng cho là cụ Phan Thị N3 khi còn sống.
[6.]. Tại phiên tòa các ông bà H, P, L, H1 cho rằng: Giấy chứng nhận QSD đất số AD 766273 ngày 30/12/2005 mang tên Hộ bà Phan Thị N3, nên các thành viên hộ gia đình là các bà đều có quyền định đoạt đối với thửa đất, việc cụ N3 tự ý tặng cho người khác mà không có biên bản họp gia đình và không có sự đồng ý của các ông bà là trái pháp luật. Ngoài ra các ông bà còn cho rằng các ông bà vẫn ở chung hộ khẩu khi cụ N3 được cấp QSD đất năm 2005...và cụ N3 chỉ biết viết tên “Nhỡ” không ghi được cả họ tên... Thấy rằng, thời điểm năm 2005 cụ N3 được cấp giấy chứng nhận QSD đất, những người có tên chung trong sổ hộ khẩu của cụ N3 gồm: Cụ N3, bà V, ông P cùng vợ con (còn ông H3 cùng vợ con ở cùng trên đất), bà H1 đã chuyển khẩu từ năm 2000 (BL 121), bà L chuyển khẩu từ khi đi lấy chồng (BL 125), bà H chuyển khẩu từ 25/4/1998 (BL 139). Mặt khác, các đương sự đều xác định tại phiên Tòa là không có đóng góp gì về đất, bà H, H1 có công xây căn nhà mà cụ N3 đã tặng cho vợ chồng bà N, hiện bà N đang quản lý và cụ N3 là người biết chữ biết viết (việc cụ N3 biết chữ cũng được thể hiện tại các đơn kê khai đất của cụ N3 năm 1993 và hồ sơ xin cấp đất năm 2005. Mặt khác, Tòa án sơ thẩm đã trưng cầu giám định. Phòng K Công an tỉnh T trả lời “Mẫu cần giám định và mẫu so sánh ít, không ổn định, vượt quá khả năng giám định”). Như đã phân tích tại các mục [2.2], [3] và [4] nêu trên thì các ý kiến này của các ông bà H, P, L, H1 là không có căn cứ chấp nhận.
[7.]. Do vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H và tuyên bố Hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 20/5/2013 giữa cụ Phan Thị N3 với ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị Hoài Nam vô H7 và tuyên hủy Hợp đồng này là không có căn cứ. Trong trường hợp này, cần bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H về
10
yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho, yêu cầu hủy điều chỉnh giấy chứng nhận QSD đất của cụ N3 và ông H3, bà N.
[8.]. Về yêu cầu chia di sản thừa kế:
[8.1.] Bản án sơ thẩm xác định về hàng thừa kế là 07 người con của cụ T và cụ N3 gồm: Trần Thị L, Trần Thị H, Trần Thị V, Trần Thị V1, Trần Thị H1, Trần Bá P (tên ở nhà là S),Trần Văn H3 (đã chết năm 2014, chết trước cụ N3, chị Trần Thị Thanh H2 - con gái ông H3 là thừa kế thế vị của ông H3 theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự). Hội đồng xét xử thấy việc hàng thừa kế của cụ T và cụ N3 như trên của là đúng.
[8.2.].Về di sản thừa kế gồm:
[8.2.1.].Quyền sử dụng 19 thửa đấtnông nghiệp, thuộc tờ bản đồ số 04, 05, và 07 với tổng diện tích 8.575 m² thuộc phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Đất đã được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 02/12/1998, mang tên hộ bà Phan Thị N3. Các thửa đất nông nghiệp này đã trả lại một phần cho những người thừa kế, hiện còn 13 thửa với diện tích 5.225 m², các đương sự đều không yêu cầu giải quyết, nên cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ. Các đương sự có quyền tự thỏa thuận và quyền khởi kiện khi phát sinh tranh chấp.
[8.2.2.]. Quyền sử dụng 2.307m² đất (hiện trạng sử dụng là 2.374,5m², trong đó có 210 m² đất ở đô thị và 2.164,5 m² đất cây lâu năm) tại thửa đất 143, tờ bản đồ số 07 phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, đã được UBND thành phố T cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 502426 ngày 28/4/2014 mang tên bà Phan Thị N3. Như đã phân tích ở trên, xác định đây là phần di sản thừa kế còn lại của cụ N3 (sau khi đã tặng cho) và phần di sản thừa kế của cụ T. Do cụ T chết năm 1988, không để lại di chúc, tính đến thời điểm các đương sự yêu cầu chia thừa kế thì thời hiệu chia thừa kế đối với phần di sản của cụ T đã hết, tuy nhiên do không đương sự nào có yêu cầu áp dụng về thời hiệu, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã chia thừa kế của cả hai cụ theo pháp luật là có căn cứ.
[8.2.3.]. Tài sản trên thửa đất 143 tờ bản đồ số 07, diện tích 2.307m², gồm:
- (+) 01 Nhà do cụ N3 xây năm 1980 (hiện không có ai ở) mái lợp ngói, nền láng xi măng có diện tích 63 m² và 01 mái tấm lợp Prôximăng đua sân có diện tích 36 m², đã hết khấu hao sử dụng.
- (+) 01 nhà xây năm 2017, mái lợp tôn, nền lát gạch 50 x 50 có diện tích 79,2 m², có giá trị 213.731.040 đồng; 01 mái tôn đua sân xây dựng năm 2017, nền láng bê tông có diện tích 51,12 m², có giá trị 7.483.968 đồng (là tài sản do ông P tự xây và đang quản lý).
- (+) 01 nhà xây năm 2017, mái lợp tôn, nền lát gạch có diện tích 50 m², có giá trị 120.150.000 đồng; 01 sân bê tông có diện tích 50 m², có giá trị 1.560.000 đồng (đây là nhà của cụ N3 và bà V cùng ở, hiện do bà V đang quản lý. Nhà xây có một phần tiền hỗ trợ của Nhà nước và của cụ N3. Các đương sự khác không có đóng góp gì đối với căn nhà này và đều đồng ý để bà V được sở hữu).
[8.2.4.]. Việc chia thừa kế cụ thể như sau: Do diện tích đất tại thửa 143 đang sử dụng, nhiều hơn diện tích được cấp quyền sử dụng, nhưng quá trình sử dụng ổn định, đã có ranh giới mốc giới rõ ràng, không có tranh chấp, nên HĐXX chia
11
theo hiện trạng sử dụng đất là 2.374,5m² (trong đó có 210 m² đất ở đô thị và 2164,5 m² đất cây lâu năm).
Kỷ phần của mỗi đồng thừa kế là: 2.374,5m² : 7 kỷ phần = 339,2m² (trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 309,2 m² đất cây lâu năm), tương ứng với trị giá 203.060.000đồng (theo biên bản định giá 12/10/2023, đất ở đô thị có giá 1.100.000đ/m²; đất cây lâu năm có giá 550.000đ/m2).
[8.2.5.]. Tại phiên tòa, chị Trần Thị Thanh H2 tự nguyện tặng cho và giảm trừ một phần diện tích đất cây lâu năm trong kỷ phần chị được hưởng. Cụ thể: Tặng cho bà V1 là 50m², bà V là 54,3m² (hai bà nhất trí nhận phần diện tích đất chị H2 tặng cho); chuyển sang kỷ phần của ông Trần Bá P 45m² đất. Ngoài ra, bà Bà Nguyễn Thị Hoài N cũng tự nguyện hiến 33,4m² đất cây lâu năm tại thửa đất 1522 để làm đường đi chung cho các đồng thừa kế. Xét đây là quyền tự định đoạt của đương sự, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm pháp luật, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8.2.6.]. Kỷ phần cụ thể của mỗi đồng thừa kế được nhận là:
- + Bà Trần Thị H được quyền quản lý sử dụng 339,2m² đất (trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 309,2 m² đất cây lâu năm), có vị trí I trên sơ đồ, theo các điểm 5, 6, 7, 43, 42, 5. Trị giá tài sản được hưởng là 203.060.000đồng.
- + Bà Trần Thị L được quyền quản lý sử dụng 339,2m² đất (trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 309,2 m²đất cây lâu năm), có vị trí II trên sơ đồ, theo các điểm 7, 8, 9, 10, 11, 12, 43, 7. Trị giá tài sản được hưởng là 203.060.000đồng.
- +Chị Trần Thị Thanh H2 được quyền quản lý sử dụng 190m²đất(trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 160 m² đất cây lâu năm), có vị trí III trên sơ đồ, theo các điểm 12, 13, 14, 41, 40, 42, 43, 12. Trị giá tài sản chị H2 được hưởng là 121.000.000đồng.
- + Bà Trần Thị V1 được quyền quản lý sử dụng 389,2m² đất (trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 359,2 m² đất cây lâu năm), có vị trí IV trên sơ đồ, theo các điểm 41, 14, 15, 16, 17, 28, 29, 41.Trên đất có một phần ngôi nhà (diện tích 19m²) do cụ N3 xây năm 1980 (hiện không có ai ở) mái lợp ngói, nền láng xi măng và 01 mái tấm lợp Prôximăng đua sân có diện tích 36 m², đã hết khấu hao sử dụng, bà V1 có quyền tháo dỡ tài sản để sử dụng đất. Trị giá tài sản bà V1 được hưởng là 230.560.000đồng.
- + Bà Trần Thị H1 được quyền quản lý sử dụng 339,2m² đất (trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 309,2 m² đất cây lâu năm), có vị trí V trên sơ đồ, theo các điểm 28, 17, 18, 45, 44, 27, 28. Trên đất có một phần ngôi nhà (diện tích 38,7m²) do cụ N3 xây năm 1980 (hiện không có ai ở) mái lợp ngói, nền láng xi măng và 01 mái tấm lợp Prôximăng đua sân có diện tích 36 m², đã hết khấu hao sử dụng, bà H1 có quyền tháo dỡ tài sản để sử dụng đất.Trị giá tài sản bà H1 được hưởng là 203.060.000đồng.
- + Bà Trần Thị V được quyền quản lý sử dụng 393,5m² đất (trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 363,5 m² đất cây lâu năm), có vị trí VI trên sơ đồ, theo các điểm 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 45, 18. Trên đất có 01 nhà xây năm 2017 diện tích 50m2 và 01 sân láng bê tôngxi măng có diện tích 50 m² (đây là nhà của cụ N3 và bà V cùng ở, hiện do bà V đang quản lý.Nhà xây có một phần tiền hỗ trợ của Nhà
12
nước và của cụ N3, các đương sự đều đồng ý để bà V được sở hữu, sử dụng). Tổng trị giá tài sản bà V được hưởng là 354.635.000 đ (trong đó giá trị đất là 232.925.000đ; tài sản trên đất là 121.710.000)
- + Ông Trần Bá P được quyền quản lý sử dụng 384,2m²(trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 354,2 m² đất cây lâu năm), có vị trí VII trên sơ đồ, theo các điểm 44, 45, 24, 25, 26, 27, 44.Trị giá tài sản ông P là 227.810.000đồng. Trên đất có tài sản là nhà do tự vợ chồng ông P xây dựng năm 2017, nên ông P được quyền tiếp tục sử dụng.
[8.2.7.].Các đương sự có quyềnđến cơ quan có thẩm quyền để liên hệ làm thủ tụcđiều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtvà quyền sở hữu tài sản theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và theo Quyết định số 04/QĐ-UBND ngày 30/3/2022 của UBND tỉnh T.
[9.]. Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hoài N, bà Trần Thị V1, Trần Thị V và chị Trần Thị Thanh H2 là có căn cứ, cần chấp nhận toàn bộ kháng cáo của họ, sửa bản án sơ thẩm số 43/2024/DS - ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên theo quy định tại khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự như trên.
[10.] Về án phí dân sự và chi phí tố tụng:
[10.1.] Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà L, bà V, bà H theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bà Trần Thị H được nhận lại 300.000đồng, tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu số: 0000296 ngày 15/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- + Bà Trần Thị V1 phải chịu 11.528.000đ, bà Trần Thị H1 phải chịu 10.153.000đ, ông Trần Bá P phải chịu 11.390.500đ, chị Trần Thị Thanh H2 phải chịu 6.050.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp sung quỹ nhà nước.
[10.2.] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà N, V, V1, chị H2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, do kháng cáo được chấp nhận.
[10.3.] Về chi phí tố tụng: Các đương sự không kháng cáo và không yêu cầu giải quyết Hội đồng xét xử không xem xét.
[11.]. Quan điểm tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[12.]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái nguyên về đường lối giải quyết vụ án là có căn cứ pháp luật.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
13
I. Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hoài N, bà Trần Thị V1, bà Trần Thị V, chị Trần Thị Thanh H2. Sửa toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DSST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
II. Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 296 củaBộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 467, Điều 692, từ Điều 722 đến Điều 725 của Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 106; điểm b khoản 1 Điều 129 Luật Đất đai năm 2003; Điều 33 của Luật hôn nhân và gia đình, tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H về việc hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 20/5/2013 giữa bà Phan Thị N3 với ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị Hoài N lập tại UBND phường P, thành phố T; Kiến nghị cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị Hoài N thu hồi và điều chỉnh sự biến động đối với diện tích đất được tách từ thửa 143, tờ bản đồ số 7 thuộc phường P.
- Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 20/5/2013 giữa bà Phan Thị N3 với ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị Hoài N lập tại UBND phường P, thành phố T có hiệu lực pháp luật.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H về chia di sản thừa kế của bố mẹ theo quy định của pháp luật, đối với thửa đất số 143, tờ bản đồ số 07 và tài sản trên thửa đất này thuộc phường P,thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Thanh H2 và bà Nguyễn Thị Hoài N về việc: Chị H2 tự nguyện tặng cho bà Trần Thị V1 là 50m², bà Trần Thị V là 54,3m² đất cây lâu năm trong kỷ phần chị được hưởng và giảm trừ 45m² đất cây lâu năm chuyển sang kỷ phần của ông Trần Bá P; Bà Nguyễn Thị Hoài N tự nguyện hiến 33,4m² đất cây lâu năm tại thửa đất 1522 để làm đường đi chung cho các đồng thừa kế.
- Chia di sản thừa kế là Quyền sử dụng đất tại thửa đất 143, tờ bản đồ số 07 phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, theo hiện trạng sử dụng là 2.374,5m² (trong đó có 210 m² đất ở đô thị và 2164,5 m² đất cây lâu năm) đất đã được UBND thành phố T cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 502426 ngày 28/4/2014 mang tên bà Phan Thị N3.
Kỷ phần của mỗi đồng thừa kế được nhận là: 2.374,5m² : 7 kỷ phần = 339,2m² (trong đó có đất ở đô thị và đất cây lâu năm), tương ứng với trị giá 203.060.000đồng. Cụ thể:
- + Bà Trần Thị H được quyền quản lý sử dụng 339,2m² đất (trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 309,2 m² đất cây lâu năm), có vị trí I trên sơ đồ, theo các điểm 5, 6, 7, 43, 42, 5. Trị giá tài sản được hưởng là 203.060.000đồng.
- + Bà Trần Thị L được quyền quản lý sử dụng 339,2m² đất (trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 309,2 m²đất cây lâu năm), có vị trí II trên sơ đồ, theo các điểm 7, 8, 9, 10, 11, 12, 43, 7. Trị giá tài sản được hưởng là 203.060.000đồng.
- +Chị Trần Thị Thanh H2 được quyền quản lý sử dụng 190m² đất (trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 160 m² đất cây lâu năm), có vị trí III trên sơ đồ, theo các
14
điểm 12, 13, 14, 41, 40, 42, 43, 12. Trị giá tài sản chị H2 được hưởng là 121.000.000đồng .
- + Bà Trần Thị V1 được quyền quản lý sử dụng 389,2m² đất (trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 359,2 m² đất cây lâu năm), có vị trí VI trên sơ đồ, theo các điểm 43, 14, 15, 16, 28, 43. Trên đất có một phần ngôi nhà (diện tích 19m²) do cụ N3 xây năm 1980 (hiện không có ai ở) mái lợp ngói, nền láng xi măng và 01 mái tấm lợp Prôximăng đua sân có diện tích 36 m², đã hết khấu hao sử dụng, bà V1 có quyền tháo dỡ tài sản để sử dụng đất. Trị giá tài sản bà V1 được hưởng là 230.560.000đồng.
- + Bà Trần Thị H1 được quyền quản lý sử dụng 339,2m² đất (trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 309,2 m² đất cây lâu năm), có vị trí V trên sơ đồ, theo các điểm 28, 17, 18, 45, 44, 27, 28. Trên đất có một phần ngôi nhà (diện tích 38,7m²) do cụ N3 xây năm 1980 (hiện không có ai ở) mái lợp ngói, nền láng xi măng và 01 mái tấm lợp Prôximăng đua sân có diện tích 36 m², đã hết khấu hao sử dụng, bà H1 có quyền tháo dỡ tài sản để sử dụng đất. Trị giá tài sản bà H1 được hưởng là 203.060.000đồng.
- + Bà Trần Thị V được quyền quản lý sử dụng 393,5m² đất (trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 363,5 m² đất cây lâu năm), có vị trí VI trên sơ đồ, theo các điểm 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 45, 18. Trên đất có 01 nhà xây năm 2017 diện tích 50m2 và 01 sân láng bê tông xi măng có diện tích 50 m² (đây là nhà của cụ N3 và bà V cùng ở, hiện do bà V đang quản lý.Nhà xây có một phần tiền hỗ trợ của Nhà nước và của cụ N3, các đương sự đều đồng ý để bà V được sở hữu, sử dụng). Tổng trị giá tài sản bà V được hưởng là 354.635.000 ( trong đó giá trị đất là 232.925.000đ; tài sản trên đất là 121.710.000)
- + Ông Trần Bá P được quyền quản lý sử dụng 384,2m²(trong đó có 30 m² đất ở đô thị và 354,2 m² đất cây lâu năm), có vị trí VII trên sơ đồ, theo các điểm 44, 45, 24, 25, 26, 27, 44. Trị giá tài sản ông P là 227.810.000đồng. Trên đất có tài sản là nhà do tự vợ chồng ông P xây dựng năm 2017, nên ông P được quyền tiếp tục sử dụng.
Các đương sự có quyền đến cơ quan có thẩm quyền để liên hệ làm thủ tục điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và Quyết định số 04/QĐ-UBND ngày 30/3/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:
Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà L, bà V, bà H theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 do là người cao tuổi. Bà Trần Thị H được nhận lại 300.000đồng, tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu số: 0000296 ngày 15/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- + Bà Trần Thị V1 phải chịu 11.528.000đ, bà Trần Thị H1 phải chịu 10.153.000đ, ông Trần Bá P phải chịu 11.390.500đ,chị Trần Thị Thanh H2 phải chịu 6.050.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp sung quỹ nhà nước.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà N, bà V, bà V1, chị H2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà N, chị H2, bà V1, bà V được nhận lại số tiền tạm ứng án
15
phí phúc thẩm đã nộp 300.000đ, theo các biên lai thu số 0002975 và 0002976 cùng ngày 01/7/2024, số 0002985 và 0002986 cùng ngày 02/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- Về chi phí tố tụng: Các đương sự không kháng cáo và không yêu cầu giải quyết Hội đồng xét xử không xem xét.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
III.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy |
Bản án số 156/2024/DS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 156/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hoài N, bà Trần Thị V1, bà Trần Thị V, chị Trần Thị Thanh H2. Sửa toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DSST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
