Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2024/DS-PT

Ngày 30-8-2024

V/v Tranh chấp đòi lại tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Đắc Đương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mến

Ông Nguyễn Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Duy Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 147/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp đòi lại tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 94/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 117/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1976; địa chỉ ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O: Ông Dư Văn A, sinh năm 1983; địa chỉ ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 30/01/2024) (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O: Bà Trần Thị Đ là Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh T.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1977; địa chỉ ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V: Ông Võ Trung D là Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Thạch T, sinh năm 1976; địa chỉ ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
  2. Ông Dư Văn A, sinh năm 1983; địa chỉ ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
  3. Ông Nguyễn Văn Chí T1, sinh năm 1978; địa chỉ ấp K, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
  4. Ông Dư Văn T2, sinh năm 1989; địa chỉ Khóm G, Phường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Cẩm V là bị đơn trong vụ án.

- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 9 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện ông Dư Văn A là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Kiều O trình bày: Vào năm 2018 bà Nguyễn Thị Cẩm V đến nhà bà Nguyễn Thị Kiều O có mang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị Đ1, sinh năm 1942, địa chỉ ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh để nhờ bà Nguyễn Thị Kiều O đem đi thế chấp mượn tiền giùm 60.000.000 đồng. Nghĩ tình chị em nên bà Nguyễn Thị Kiều O nhờ ông Dư Văn A (chồng bà O) đến nhà ông Dư Văn T2 (em của ông Dư Văn A) hỏi mượn cho bà Nguyễn Thị Cẩm V số tiền 60.000.000 đồng, lãi suất 2%/ tháng. Lúc vay của ông Dư Văn T2 không có làm giấy tờ gì cả. Khi bà Nguyễn Thị Kiều O giao tiền cho bà Nguyễn Thị Cẩm V cũng không có làm giấy tờ gì, cũng không có ai biết. Sau khi vay bà Nguyễn Thị Cẩm V đóng lãi trực tiếp cho ông Dư Văn T2 được 2 đến 3 tháng thì ngưng không đóng nữa. Đến thời gian trả tiền nhưng bà Nguyễn Thị Cẩm V không trả và nói không có mượn tiền của bà Nguyễn Thị Kiều O. Sau này Dư Văn T2 có yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết thì bà Nguyễn Thị Cẩm V nói không có mượn mà do Nguyễn Văn Chí T1 (là em của bà Nguyễn Thị Kiều O và bà Nguyễn Thị Cẩm V) mượn. Tại cuộc hòa giải ngày 08 tháng 5 năm 2020 thì Nguyễn Văn Chí T1 đứng ra nhận nợ và đồng ý trả cho Dư Văn T2 nhưng ông Dư Văn A không đồng ý mà yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm V phải trả số tiền đã vay, đồng thời Chính quyền địa phương cũng giải thích việc thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị Đ1 là không đúng nên bà Nguyễn Thị Kiều O trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đ1 lại cho bà Nguyễn Thị Cẩm V. Sau khi hòa giải cũng không ai trả tiền cho ông Dư Văn T2 nên ông Dư Văn A và bà Nguyễn Thị Kiều O đã trả cho ông Dư Văn T2 số tiền 60.000.000 đồng. Nay bà Nguyễn Thị Kiều O yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm V trả cho bà Nguyễn Thị Kiều O số tiền 60.000.000 đồng không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V trình bày: Việc ông Nguyễn Văn Chí T1 (là em của bà Nguyễn Thị Kiều O và bà Nguyễn Thị Cẩm V) lén lút lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị Đ1 (là mẹ chồng của bà Nguyễn Thị Cẩm V) đi thế chấp cho bà Nguyễn Thị Kiều O để vay tiền thì bà Nguyễn Thị Cẩm V hoàn toàn không biết. Đến khi sự việc xảy ra bà Nguyễn Thị Cẩm V mới biết và có thương lượng với bà Nguyễn Thị Kiều O là ông Nguyễn Văn Chí T1 cũng là em ruột lỡ lấy giấy thế chấp là sai nên bà V, bà O mỗi người chịu 30.000.000 đồng để trả cho ông Dư Văn T2 là do bà V muốn gia đình êm đẹp nên mới đề xuất với bà O như vậy, việc thương lượng này chỉ bằng miệng ở tại nhà còn khi đến trụ sở hòa giải thì không có đưa ra hòa giải. Từ trước đến nay bà Nguyễn Thị Cẩm V không có vay mượn tiền gì của ông Dư Văn T2, cũng không có đóng lãi cho ông Dư Văn T2. Việc bà Nguyễn Thị Kiều O khởi kiện bà Nguyễn Thị Cẩm V mượn tiền là hoàn toàn không có nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều O.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dư Văn A thống nhất theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị Kiều O.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dư Văn T2 trình bày: Vào năm 2018 ông Dư Văn A có đến hỏi vay tiền giùm cho bà Nguyễn Thị Cẩm V số tiền 60.000.000 đồng, không có làm giấy tờ và cũng không có giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị Đ1 mà giao lại cho ông Dư Văn A cất giữ. Sau khi vay bà Nguyễn Thị Cẩm V là người trực tiếp đóng lãi cho ông Dư Văn T2 được 3 lần. Còn đối với việc hòa giải tại ấp Đ, xã L mặc dù người vay tiền của ông Dư Văn T2 là bà Nguyễn Thị Cẩm V nhưng ông Dư Văn T2 vẫn đồng ý để ông Nguyễn Văn C T1 nhận nợ và trả tiền là do là chỗ thông gia, ông Nguyễn Văn Chí T1 hay bà Nguyễn Thị Cẩm V ai trả cũng được nhưng ông Dư Văn A không đồng ý và yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm V phải trả. Sau khi hòa giải ông Nguyễn Văn Chí T1 cũng không thực hiện lời hứa nên ông Dư Văn A và bà Nguyễn Thị Kiều O đã trả cho ông Dư Văn T2 xong. Ông Dư Văn T2 khẳng định bà Nguyễn Thị Cẩm V là người vay tiền và đóng lãi cho ông T2 được 3 lần số tiền 3.600.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thạch T thống nhất theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị Cẩm V.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Chí T1 không có ý kiến. Tòa án đã thông báo thụ lý, thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập xét xử nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do cũng không có văn bản trả lời cho Tòa án biết về việc khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều O.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều O. Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm V phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Kiều O số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng)

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo, quyền thỏa thuận, tự nguyện thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 22 tháng 3 năm 2024 bị đơn Nguyễn Thị Cẩm V kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 01 tháng 4 năm 2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh có Quyết định kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS về việc kháng nghị toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Cẩm V phát biểu quan điểm như sau: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm V trả số tiền là 60.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh việc bà Nguyễn Thị Cẩm V vay số tiền là 60.000.000 đồng, việc giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị Đ1 cho bà Nguyễn Thị Cẩm V không phải là chứng cứ chứng minh việc vay tiền, tại biên bản hòa giải ngày 08 tháng 5 năm 2020 các đương sự thừa nhận đưa tiền cho ông Dư Văn A và bà Nguyễn Thị Kiều O nhưng bà Nguyễn Thị Kiều O không có chứng cứ chứng minh đã giao số tiền 60.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Cẩm V, cũng trong cuộc hòa giải này ông Nguyễn Văn Chí T1 thừa nhận mượn tiền của ông Dư Văn T2 là 60.000.000 đồng và đồng ý trả tiền cho ông Dư Văn T2 và ông Dư Văn T2 cũng đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị Cẩm V, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều O.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O phát biểu quan điểm như sau: Bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V kháng cáo không thừa nhận việc mượn tiền của bà Nguyễn Thị Kiều O, tuy nhiên bà Nguyễn Thị Cẩm V có giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị Đ1 (mẹ chồng của bà V) thế chấp để mượn tiền, do bà Huỳnh Thị Đ1 là chỗ thông gia nên bà Nguyễn Thị Kiều O mới cho bà Nguyễn Thị Cẩm V mượn tiền nếu trường hợp ông Nguyễn Văn Chí T1 đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị Đ1 đi cầm thì bà Nguyễn Thị Kiều O sẽ không cho vay. Đối với biên bản hòa giải ngày 08 tháng 5 năm 2020 ông Dư Văn A ký tên là để chứng kiến việc hòa giải, không có nghĩa là đồng ý cho ông Nguyễn Văn C T1 trả tiền cho ông Dư Văn T2, tại cuộc hòa giải ông Dư Văn A yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm V trả tiền cho bà Nguyễn Thị Kiều O, sau khi hòa giải thì ông Nguyễn Văn Chí T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên bà Nguyễn Thị Kiều O và ông Dư Văn A đã trả tiền cho ông Dư Văn T2, thực tế bà Nguyễn Thị Cẩm V có mượn tiền của bà Nguyễn Thị Kiều O số tiền là 60.000.000 đồng nhưng bà V đưa ông Nguyễn Văn Chí T1 vào nhận nợ để thay thế trách nhiệm là trốn tránh nghĩa vụ trả nợ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ kiện: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm V trả số tiền 60.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh việc giao nhận tiền, không có biên nhận, bà Nguyễn Thị Cẩm V không thừa nhận có mượn tiền, đồng thời bà Nguyễn Thị Cẩm V trình bày số tiền 60.000.000 đồng là do ông Nguyễn Văn Chí T1 (em ruột của bà Nguyễn Thị Cẩm V và bà Nguyễn Thị Kiều O) mượn. Lời trình bày này của bà V cũng phù hợp với lời thừa nhận của ông T1 tại biên bản hoà giải của Ủy ban nhân dân xã L ngày 08 tháng 5 năm 2020 và biên bản hoà giải tại Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh ngày 10 tháng 01 năm 2022.

Lời trình bày của ông Dư Văn T2 tại biên bản hoà giải ngày 08 tháng 5 năm 2020 ông T2 thừa nhận giao tiền cho ông Dư Văn A mượn và đồng ý để ông Nguyễn Văn Chí T1 trả số tiền 60.000.000 đồng, tuy nhiên ngày 11 tháng 9 năm 2023 ông Dư Văn T2 lại xác nhận với nội dung là bà Nguyễn Thị Cẩm V có nhờ vợ chồng ông Dư Văn A, bà Nguyễn Thị Kiều O mượn ông 60.000.000 đồng, sau đó do bà V không đóng lãi nên bà O đã đóng lãi thay và đã trả nợ gốc cho ông. Xét thấy lời trình bày của ông Dư Văn T2 trước, sau không thống nhất và cũng không chứng minh được bà Nguyễn Thị Cẩm V đã vay tiền của bà Nguyễn Thị Kiều O.

Những người chứng kiến như ông Nguyễn Văn Bé B, ông Thạch D1 có nhìn thấy bà Nguyễn Thị Cẩm V giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Kiều O nhưng không chứng kiến việc giao nhận tiền. Bà Nguyễn Thị Cẩm V khai bà đóng lãi giùm ông Nguyễn Văn Chí T1. Vì vậy không có cơ sở để khẳng định bà Nguyễn Thị Cẩm V có mượn tiền của bà Nguyễn Thị Kiều O.

Đối với nguyên đơn khởi kiện phải có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 6, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trong vụ án này chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chưa đủ cơ sở để khẳng định bà Nguyễn Thị Cẩm V có mượn tiền của bà Nguyễn Thị Kiều O nên việc Toà án sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa đảm bảo đúng quy định tại Điều 108 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về đánh giá chứng cứ. Do đó kháng cáo của bị đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Đối với Quyết định kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS ngày 01/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh kháng nghị toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử phúc thẩm vụ án sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như phân tích nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS ngày 01/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2024/DS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí dân sự sơ và phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giải quyết lại đúng theo quy định của pháp luật về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V kháng cáo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh kháng nghị, xét thấy việc kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét về nội dung yêu cầu kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Bà Nguyễn Thị Cẩm V kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều O về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm V trả số tiền 60.000.000 đồng. Quyết định kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh kháng nghị toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xét xử phúc thẩm theo hướng sửa bản án dân sự sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Án sơ thẩm nhận định bà Nguyễn Thị Cẩm V có lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị Đ1 (mẹ chồng của bà V) đưa cho bà Nguyễn Thị Kiều O để thế chấp vay số tiền là 60.000.000 đồng nhưng bà Nguyễn Thị Cẩm V không thừa nhận bà Nguyễn Thị Cẩm V cho rằng Nguyễn Văn Chí T1 (là em ruột của bà V) lấy Giấy chứng nhận của bà Huỳnh Thị Đ1 đem thế chấp vay tiền của bà Nguyễn Thị Kiều O. Nhưng qua xác minh, xác định bà Nguyễn Thị Cẩm V là người trực tiếp giao Giấy chứng nhận cho bà Nguyễn Thị Kiều O, bà Nguyễn Thị Cẩm V không thừa nhận nợ nhưng lại đóng lãi cho ông Dư Văn T2 03 lần là 3.600.000 đồng từ những cơ sở trên nên bản án sơ thẩm buộc bà Nguyễn Thị Cẩm V trả tiền cho bà Nguyễn Thị Kiều O.

Xét thấy bà Nguyễn Thị Kiều O trình bày bà O có cho bà Nguyễn Thị Cẩm V vay số tiền là 60.000.000 đồng nhưng bà Nguyễn Thị Cẩm V không thừa nhận sự việc trên, bà Nguyễn Thị Kiều O không có chứng cứ chứng minh là bà Nguyễn Thị Cẩm V vay tiền của bà Nguyễn Thị Kiều O.

Việc những người làm chứng ông Nguyễn Văn Bé B, ông Thạch D1 xác nhận trực tiếp thấy bà Nguyễn Thị Cẩm V đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Kiều O, nhưng họ không thấy việc giao nhận tiền. Như vậy sự việc này cũng không phải là chứng cứ chứng minh cho việc bà Nguyễn Thị Cẩm V vay tiền của bà Nguyễn Thị Kiều O.

Tại biên bản lấy lời khai ông Nguyễn Văn Chí T1 ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh và biên bản hoà giải tại Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh ngày 10 tháng 01 năm 2022, ông Nguyễn Văn Chí T1 thừa nhận có lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị Đ1 đi vay tiền của vợ chồng bà Nguyễn Thị Kiều O và ông Dư Văn A là 60.000.000 đồng và đồng ý trả cho bà Nguyễn Thị Kiều O số tiền là 60.000.000 đồng.

Ông Dư Văn T2 trình bày bà Nguyễn Thị Cẩm V có đóng lãi cho ông được 03 lần là 3.600.000 đồng, sự việc này bà Nguyễn Thị Cẩm V không thừa nhận và ông Dư Văn T2 cũng không có chứng cứ nào khác để chứng minh sự việc này nên lời trình bày này của ông Dư Văn T2 không có cơ sở để chấp nhận. Do đó không có căn cứ chứng minh rằng bà Nguyễn Thị Cẩm V có vay tiền của bà Nguyễn Thị Kiều O. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều O buộc bà Nguyễn Thị Cẩm V trả cho bà Nguyễn Thị Kiều O số tiền 60.000.000 đồng là không có căn cứ, không phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy kháng cáo của bị đơn là có căn cứ cần được chấp nhận, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật cần được chấp nhận, chấp nhận đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, không chấp nhận đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh là phù hợp với chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ kiện, phù hợp với các quy định của pháp luật cần được chấp nhận. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh, sửa bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Kiều O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Cẩm V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận kháng nghị số 03/QĐ-VKS-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh về việc tranh chấp đòi lại tài sản giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O với bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm V.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm V trả số tiền 60.000.000 đồng.
  3. Về án phí:
    • Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Kiều O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.000.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0014017 ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh; bà Nguyễn Thị Kiều O còn phải nộp 2.700.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    • Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Cẩm V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Cẩm V 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0002753 ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Đắc Đương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2024/DS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 156/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger