TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 156/2024/HS-PT
Ngày: 30/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Hiền.
Bà Triệu Thị Luyện.
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Mỹ Linh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T- Kiểm sát viên.
Trong ngày 30/8/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 162/2024/TLPT-HS ngày 17/6/2024 đối với Nguyễn Văn T1 và đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T1, Lê Văn C và Phạm Văn T2 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
* Bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn T1 (tên gọi khác: không), giới tính: nam; sinh năm 1990; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn phổ thông: lớp 09/12; con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968; con bà: Phạm Thị T3, sinh năm 1972; vợ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1993 (đã ly hôn); bị cáo có 02, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 1; tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 20/12/2023. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Lê Văn C (tên gọi khác: không), giới tính: nam. sinh năm 1999; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn phổ thông: lớp 12/12; con ông: Lê Văn T4, sinh năm 1974; con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1979; vợ: Cao Thị C1, sinh năm 2001; bị cáo có 01 con sinh năm 2023; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 1; tiền án, tiền sự, nhân thân: không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 20/12/2023. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Phạm Văn T2 (tên gọi khác: không), giới tính: nam, sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; con ông: Phạm Văn S, sinh năm 1966; con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; vợ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1996; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; tiền án, tiền sự, nhân thân: không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 20/12/2023. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
Người tham gia tố tụng khác: vụ án còn có có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Văn Q1, anh Đỗ Văn Q2, chị Nguyễn Thị M; người làm chứng là chị Phạm Thị T3 nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 15 phút ngày 14/12/2023, tổ công tác Công an huyện H, tỉnh Bắc Giang phối hợp cùng Công an xã H, huyện H bắt quả tang Lê Văn C, sinh năm 1999 và Phạm Văn T2, sinh năm 1992 cùng ở thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang có hành vi buôn bán hàng cấm tại khu vực cụm C thuộc thôn G, xã H, huyện H. Khi bắt quả tang thu giữ 01 bao tải màu đen bên trong có: 18 (mười tám) khối hình hộp, bên ngoài dán giấy màu đỏ có chữ nước ngoài, kích thước (15x15x15)cm và 12 (mười hai) khối hình cầu, một đầu quấn giấy màu nâu, một đầu quấn giấy màu trắng có đính dây màu xanh đều nghi là pháo nổ; 01 điện thoại di động Iphone nhãn hiệu 13 Promax; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS: 98D1-924.36; 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream BKS: 31-643-P5.
Quá trình bắt quả tang, C khai mua pháo nổ của Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990 và Phạm Văn Q1, sinh năm 1992 cùng ở thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn C, Phạm Văn T2, Nguyễn Văn T1 và Phạm Văn Q1, kết quả:
Khám xét tại nơi ở của Lê Văn C không thu giữ gì.
Khám xét nơi ở của Phạm Văn T2, thu giữ tại tủ quần áo trong phòng ngủ ở tầng 1: 03 khối hình hộp có kích thước (14,5x14,5x15)cm, bên ngoài có dán giấy hoa văn nhiều màu, có chữ nước ngoài; 14 ống hình trụ cao khoảng 15cm, được liên kết với nhau bằng dây dẫn, tạo thành một khối; 01 túi nilon màu đỏ, bên trong gồm nhiều vật hình trụ, mỗi vật hình trụ có vỏ giấy màu đỏ, một đầu có dây dẫn, giữa các hình trụ được liên kết với nhau thành tràng (được niêm phong trong 01 bao tải dứa màu trắng).
T5 tại sân nhà Nguyễn Văn T1: 01 thùng bìa catton màu vàng, bên ngoài thùng bìa in chữ “DOLEXPHAR” bên trong có chứa 09 (chín) khối hình hộp đều có đặc điểm: bên ngoài dán giấy hoa văn màu đỏ, in chữ nước ngoài, dạng chữ Trung Quốc, trên của mỗi khối hình hộp có 02 dây dẫn, có kích thước (14,5x14,5x15)cm nghi là pháo hoa nổ.
T5 tại phòng khách nhà ở của Phạm Văn Q1: 01 (một) kéo có lưỡi bằng kim loại màu trắng, tay cầm bằng nhựa màu xanh dài 10cm; 01 (một) kéo có lưỡi bằng kim loại màu trắng, tay cầm bằng nhựa màu đỏ dài 20cm; 01 (một) thìa nhựa màu xanh, nhãn hiệu Việt Nhật dài 15cm; 01 (một) thìa bằng kim loại, màu trắng dài 10cm; 01 (một) con dao có lưỡi màu đen, tay cầm bằng gỗ, dài khoảng 25cm; 02 lọ keo 502 đã qua sử dụng; 01 lọ keo dán giấy đã qua sử dụng; 01 ống băng dính nhãn hiệu Mickey Tape, gồm 15 cuộn băng dính nhỏ. Q1 khai đây là vật dụng để Q1 sản xuất pháo nổ.
Đến 22 giờ 40 phút ngày 14/12/2023, Nguyễn Văn T1 đến C4 H1 đầu thú về hành vi bán pháo nổ cho C và T2 đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus và 01 điện thoại Vsmart đều đã qua sử dụng.
Ngày 15/12/2023, bà Phạm Thị T3, sinh năm 1972 ở thôn T, xã H, huyện H là mẹ của T1 tự nguyện giao nộp số tiền 15.300.000 đồng, bà T3 khai đây là số tiền T1 thu được khi bán pháo hoa nổ cho C và T2 nhờ bà T1 cầm hộ. Đến nay, T1 nhờ bà T3 giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Ngày 14/12/2023 và ngày 20/12/2024, Phạm Văn Q1 giao nộp tổng số tiền 4.800.000 đồng. Q1 khai đây là số tiền mà Q1 có được từ việc bán pháo cho C.
Tại bản Kết luận giám định số 2485/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Trong 01 thùng bìa cát tông đã được niêm phong gửi giám định bên trong có 01 (một) bao tải dứa màu đen chứa 18 (mười tám) khối hình hộp mỗi khối đều có kích thước (15x15x15)cm, bên ngoài được dán giấy màu đỏ và chữ nước ngoài, có hai dây dẫn màu xanh, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ, vỏ giấy, được liên kết với nhau đều là Pháo nổ (Pháo hoa nổ), có tổng khối lượng là 25,2 kg (hai mươi lăm phẩy hai ki lô gam); 12 (mười hai) vật hình cầu một đầu quần băng dính màu trắng, một đầu quấn giấy màu nâu có gắn dây ngòi màu xanh đều là Pháo nổ (Pháo hoa nổ), có tổng khối tượng là 3,0 kg (ba phẩy không ki lô gam).
Trong 01 (một) bao tải dứa màu trắng đã được niêm phong gửi giám định: 03 (ba) khối hình hộp mỗi khối đều có kích thước (14,5x14,5x15)cm, bên ngoài được dán giấy hoa văn nhiều màu và chữ nước ngoài, có hai dây dẫn màu xanh, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ, vỏ giấy, được liên kết với nhau và 14 (mười bốn) ống hình trụ cao 15cm, được liên kết với nhau bằng dây dẫn tạo thành một khối đều là Pháo nổ (Pháo hoa nổ), có tổng khối lượng là 5,0 kg (năm phẩy không ki lô gam); Các vật hình trụ được quấn bằng giấy màu đỏ, bịt kín hai đầu, trong đó có một đầu gắn dây ngòi, được liên kết với nhau thành tràng (01 (một) tràng), được đựng trong 01 (một) túi ni lon màu đỏ đều là Pháo nổ, có tổng khối lượng là 0,7 kg (không phẩy bẩy ki lô gam).
Trong 01 (một) thùng bìa cát tông màu vàng, bên ngoài thùng bìa in “DOLEXPHAR” đã được niêm phong gửi giám định: 09 (chín) khối hình hộp, mỗi khối đều có kích thước (14,5x14,5x15)cm, bên ngoài được dán giấy hoa văn nhiều màu và chữ nước ngoài, có hai dây dẫn màu xanh, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ, vỏ giấy, được liên kết với nhau đều là Pháo nổ (Pháo hoa nổ), có tổng khối lượng là 12,6 kg (mười hai phẩy sáu ki lô gam).
Quá trình điều tra xác định nguồn gốc số pháo đã thu giữ bắt quả tang các bị can như sau:
Do là người cùng địa phương nên Lê Văn C có quen biết với Nguyễn Văn T1 và Phạm Văn Q1, đồng thời biết T1 và Q1 có pháo bán. Thấy việc buôn bán pháo sẽ mang lại lợi nhuận cao nên C đã bàn bạc với T2 cùng mua pháo của T1 và Q1 để bán kiếm lời, T2 đồng ý. Khoảng đầu tháng 12/2023, C nhận được tin nhắn của một người đàn ông tự giới thiệu tên là D nhà ở S, Hà Nội muốn đặt mua pháo. Đến chiều ngày 13/12/2023, D nhắn tin, gọi điện cho C đặt mua 12 quả pháo trứng và 1 thùng pháo hoa, hẹn đến chiều ngày 14/12/2023 sẽ nhận pháo. C nói với T2 thì T2 đồng ý góp tiền với C để mua pháo của Q1 và T1 mang về bán kiếm lời. Sau đó, C điện thoại hỏi mua của T1 01 thùng pháo, T1 nói với C giá 01 thùng pháo loại 18 giàn là 15.300.000 đồng; đồng thời C gọi điện thoại bảo Q1 bán cho 50 quả pháo trứng nhưng Q1 chỉ có 12 quả pháo trứng để bán cho C.
Đến khoảng 10 giờ ngày 14/12/2023, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát: 98D1-924.36 chở T2 đến nhà T1 để lấy pháo. T1 đưa cho C và T2 một bao tải dứa màu đen bên trong chứa 01 thùng pháo hoa nổ, T2 lấy tiền trả cho T1 15.300.000 đồng rồi bê bao tải chứa pháo lên xe chở về cất giấu tại bờ ao nhà T2. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, C cùng T2 đi đến nhà Q1 để lấy pháo trứng, Q1 đưa cho C một túi nilong màu đỏ chứa 12 quả pháo trứng, T2 trả cho Q1 4.800.000 đồng rồi điều khiển xe chở C ôm túi pháo trứng về nhà T2 và cất giấu cùng chỗ với thùng pháo mua của T1 lúc sáng. Đến 17 giờ cùng ngày, D điện thoại cho C bảo mang pháo ra khu vực cụm C thuộc thôn G, xã H, huyện H để giao dịch. Lúc này, C một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS: 98D1-924.36 ra trước để lấy tiền và điện thoại cho T2 chở pháo ra nhưng do C đi một mình nên D không đồng ý đưa tiền cho C mà đợi có pháo thì mới trả tiền. Một lúc sau thì T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream BKS: 31-643-P5 chở pháo ra, khi T2 đang bê số pháo từ xe xuống để bán cho D thì bị tổ công tác của Công an huyện H phát hiện bắt quả tang, lợi dụng sở hở D chạy thoát.
Quá trình điều tra, truy tố, Lê Văn C, Phạm Văn T2, Nguyễn Văn T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 44/CT-VKS-HH ngày 03/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Thao, Lê Văn Chính, Phạm Văn T2 về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
* Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn T1 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 20/12/2023.
Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng.
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lê Văn C 02 (hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 20/12/2023.
Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng.
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Phạm Văn T2 02 (hai) năm 09 (C2) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 20/12/2023.
Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Sau khi án sơ thẩm xử xong, ngày 06/5/2024 các bị cáo Nguyễn Văn T1, Lê Văn C và Phạm Văn T2 kháng cáo. Nội dung kháng cáo: bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa là quá nghiêm khắc, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
*Tại phiên toà phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Văn T1 giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: bị cáo thấy án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, bị cáo thấy án sơ thẩm xử bị cáo như vậy là nặng, bố bị cáo mới mất, bị cáo xin hưởng án treo để ở nhà chăm sóc mẹ già và con nhỏ; bị cáo đã nộp tiền phạt bổ sung và án phí nhưng do bị cáo đưa tiền cho người em ngoài xã hội để nộp nhưng nay bị cáo không liên lạc được với người em đó, nên không có biên lai để nộp cho Hội đồng xét xử.
- Bị cáo Lê Văn C giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: bị cáo thấy án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo xin rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, chỉ kháng cáo xin hưởng án treo, bị cáo đã nộp tiền phạt của bản án sơ thẩm và án phí. Bị cáo xin hưởng án treo để ở nhà nuôi vợ, nuôi con, vợ bị cáo chưa đi làm, con còn nhỏ.
- Bị cáo Phạm Văn T2 giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: bị cáo thấy án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo xin rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, chỉ kháng cáo xin hưởng án treo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo đã nộp tiền phạt và án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm, vợ bị cáo mới sinh con nhỏ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị HĐXX:
[1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T1. Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đối với T1.
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Nguyễn Văn T1 04 (bốn) năm 03(ba) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 20/12/2023.
Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng.
[2]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Lê Văn C và Phạm Văn T2. Sửa bản án sơ thẩm đối với C và T2.
- Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Lê Văn C 02 (hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng. Xác nhận bị cáo đã thi hành xong hình phạt bổ sung.
- Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Phạm Văn T2 02 (hai) năm 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng. Xác nhận bị cáo đã thi hành xong tiền phạt bổ sung.
Giao bị cáo Lê Văn C và bị cáo Phạm Văn T2 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo T1 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo C, bị cáo T2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Bị cáo T1 tranh luận: bố bị cáo mới mất, bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo nuôi hai con nhỏ, là lao động chính trong gia đình, nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Các bị cáo C, T2 không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo không có trình bày gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, những người này không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
[2]. Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T1, Lê Văn C và Phạm Văn T2, HĐXX xét thấy:
Khoảng cuối tháng 11 năm 2023 và ngày 14/12/2023, Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990 ở thôn T xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang đã có hành vi mua 37,8kg Pháo nổ (Pháo hoa nổ) mục đích để bán kiếm lời. Ngày 14/12/2023, T1 bán 25,2kg Pháo nổ (Pháo hoa nổ) cho Lê Văn C, sinh năm 1999 và Phạm Văn T2, sinh năm 1992, đều ở thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang được số tiền 15.300.000 đồng ( mười lăm triệu ba trăm nghìn đồng). Đến 18 giờ 15 phút ngày 14/12/2023, tại khu vực cụm C thuộc thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Lê Văn C và Phạm Văn T2 đang có hành vi bán 28,2 kg Pháo nổ (Pháo hoa nổ), (gồm 25,2kg mua của T1 và 03kg mua của Phạm Văn Q1). Khi C và T2 đang giao dịch mua bán pháo thì bị bắt quả tang.
Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người liên quan, người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự. Án sơ thẩm xét xử các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng quy định pháp luật, không oan sai.
[3] Về tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo:
Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ pháo là hàng hóa mà nhà nước cấp sản xuất, kinh doanh, sử dụng, lưu hành nhưng chỉ vì muốn kiếm lời bất chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm quy định của pháp luật trong việc buôn bán hàng hóa mà buôn bán hàng pháo nổ còn để lại hậu quả xấu cho xã hội. Hành vi của các bị cáo đã tạo điều kiện cho các hoạt động mua bán, tàng trữ trái phép pháo gia tăng, gây khó khăn cho công tác phòng chống loại tội phạm này ở địa phương. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự.
[4]. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Vụ án có nhiều bị cáo cùng thực hiện một hành vi phạm tội, nhưng các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất từ trước, nên đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn.
Bị cáo T1 là người có vai trò chính thực hiện việc mua bán hàng cấm nhiều lần.
Bị cáo C và bị cáo T2 có vai trò tương đương nhau, bị cáo C có trách nhiệm tìm mối liên hệ để mua bán pháo, còn bị cáo T2 thì có trách nhiệm bỏ tiền để mua pháo nổ.
Tuy nhiên bị cáo T2 ngoài việc cùng bị cáo T1 mua bán pháo nổ thì còn có hành vi tàng trữ 5,7kg pháo nổ và bị cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra đề nghị Uỷ ban nhân dân xử phạt hành chính đây cũng là một tình tiết để xem xét khi lượng hình.
[5]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo:
[5.3]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu.
- Xét về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo C và T2 không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo T1 phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T2 có tham gia nghĩa vụ quân sự và được tặng thưởng danh hiệu chiến sĩ tiên tiến, bị cáo T1 đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại cấp phúc thẩm:
- Bị cáo T1 trình bày đã nhờ bạn nộp tiền phạt bổ sung nhưng bị cáo không xuất trình được biên lai, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới và bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng và phạm tội từ hai lần trở lên, bị cáo có vai trò chính trong vụ án nên không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo T1.
Bị cáo C và bị cáo T2 xuất trình biên lai nộp tiền phạt bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm nên đây là các tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét cho các bị cáo.
Việc các bị cáo T2, C nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo không phải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, vai trò, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo C, T2 cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo C, T2, Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thấm, các bị cáo đồng phạm giản đơn, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòà bị cáo T2, bị cáo C thành khẩn khai báo. Hội đồng xét xử xét, thấy bị cáo T2, bị cáo C đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/VBHN - TAND TC ngày 07/9/2022, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo C, bị cáo T2 được hưởng án treo, cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hôi như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòà là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[5.4]. Về hình phạt bổ sung: do các bị cáo là các lao động kiếm được nguồn thu nhập, buôn bán pháo nhằm mục đích kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Xác nhận bị cáo C, bị cáo T2 đã thi hành xong hình phạt bổ sung.
[5.5]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T1, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo T1; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Văn T2 và Lê Văn C, sửa bản án sơ thẩm đối với bị cáo T2 và bị cáo C.
[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo T1 không được chấp nhận nên, kháng cáo của bị cáo C, bị cáo T2 được chấp nhận nên căn cứ Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Lê Văn C và Phạm Văn T2, nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, đối với bị cáo T1.
- Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn T1 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 20/12/2023.
Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Văn C và Phạm Văn T2. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, đối với bị cáo C và bị cáo T2.
- Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lê Văn C 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước. Xác nhận bị cáo đã thi hành xong 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) tiền phạt bổ sung theo biên lai số 0001924 ngày 19/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hoà.
- Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Phạm Văn T2 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước. Xác nhận bị cáo đã thi hành xong 20.000.000đồng tiền phạt bổ sung theo biên lai số 0001938 ngày 15/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hoà.
Giao các bị cáo Lê Văn C và Phạm Văn T2 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- 3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 phải phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn C3, Phạm Văn T2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- 4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- 5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hà |
Bản án số 156/2024/HS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 156/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Họ và tên: Nguyễn Văn T1 (tên gọi khác: không), giới tính: nam; sinh năm 1990; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn phổ thông: lớp 09/12; con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968; con bà: Phạm Thị T3, sinh năm 1972; vợ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1993 (đã ly hôn); bị cáo có 02, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 1; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 20/12/2023. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
