|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 156/2024/HS-ST Ngày 30 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tú
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảng
Bà Nguyễn Thị Biên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Hà Thị P, sinh năm 1980; Tên gọi khác: Không
Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở: Thôn C, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do. Văn hoá: 06/12. Giới tính: Nữ. Bố: Hà Đình K, sinh năm 1951. Mẹ: Ngụy Thị M, sinh năm 1959. Gia đình có 04 chị em, bị cáo là thứ hai. Chồng: Lê Văn G, sinh năm 1979. Có 03 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại - Có mặt
* Bị hại: Ông Lê Văn K1, sinh năm 1972 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
* Người làm chứng:
- - Bà Hà Thị N, sinh năm 1973 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn C, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
- - Cháu Lê Hồng Á, sinh ngày 28/8/2006 (Vắng mặt)
- Người đại diện hợp pháp của cháu Lê Hồng Á:
- Anh Lê Văn G, sinh năm 1979 (Có mặt)
- Đều có địa chỉ: Thôn C, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
- - Bà Lê Thị H, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn C, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ông Lê Văn K1, sinh năm 1972, trú tại thôn C, xã D, thành phố B là em họ nội tộc với anh Lê Văn G, sinh năm 1979 ở cùng thôn.
Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 14/02/2024 (mồng 5 Tết Nguyên đán), ông Lê Văn K1 đi xe máy đến nhà anh Lê Văn G để chúc tết. Lúc này, anh G do đã uống rượu trước đó nên nằm ngủ ở trong nhà. Ông K1 gặp Hà Thị P, sinh năm 1980 là vợ anh G đang ở nhà. P đi vào gọi anh G nhưng anh G do bị mệt nên vẫn nằm ngủ, hai người đứng nói chuyện với nhau ở sân nhà. Trong lúc nói chuyện, ông K1 có nói đến việc anh G còn nợ anh Nguyễn Văn Y, sinh năm 1978, trú tại thôn T, xã D, thành phố B số tiền 2.000.000 đồng nhưng chưa trả. P tức giận vì ngày đầu năm mới nhưng ông K1 đến nhà đòi nợ nên đuổi ra khỏi nhà. Hai bên xảy ra mâu thuẫn, P nhặt gạch vỡ ném nhiều lần về phía ông K1 trong đó có 01 lần ném trúng vào sườn bên phải làm ông K1 bị đau. Sau đó, ông K1 đi ra ngoài cổng nhà P và đi đến gần trước cổng nhà bà Hà Thị N thì P chạy theo ra ngoài cổng, tiếp tục nhặt gạch vỡ ở đường ném nhiều lần về phía người ông K1 đứng cách khoảng 02 mét. Theo P khai trong lần ném thứ 3 thì ném viên gạch trúng vào đầu ông K1, hậu quả làm ông K1 bị thương ở vùng đỉnh đầu bên trái và vành tai trái bị chảy máu. Thời điểm này có bà Hà Thị N và chị Lê Thị H là hàng xóm của gia đình P có mặt và nhìn thấy P cầm gạch ném trúng đầu ông K1. Sau khi sự việc xảy ra, cháu Lê Hồng Á là con gái P đã quét dọn các mảnh gạch vỡ ở khu vực cổng.
Sau khi sự việc xảy ra, Công an xã D đã báo cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B khám nghiệm hiện trường. Kết quả khám nghiệm xác định nơi xảy ra vụ việc tại nhà anh Lê Văn G ở thôn C, xã D, thành phố B. Tại khu vực cổng ra vào có nhiều mảnh gạch, đá bị vỡ và dấu vết máu nhỏ giọt màu nâu đỏ. Cơ quan điều tra thu giữ các viên gạch vỡ có các kích thước khác nhau xung quanh khu vực hiện trường.
Hồi 15 giờ ngày 14/02/2024, Công an xã D đã lập biên bản kiểm tra dấu vết thương tích trên thân thể của ông Lê Văn K1 tại Trạm y tế xã D xác định có thương tích sau:
- + Vành tai bên trái có vết rách kích thước (1,5x 0,4)cm được khâu 3 mũi.
- + Đỉnh đầu có 01 vết rách chia làm 03 nhánh hình hoa thị, mỗi nhánh có độ dài 01cm, độ sâu 0,5cm được khâu 2 mũi.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định để xác định tỷ lệ thương tích và cơ chế hình thành thương tích của ông Lê Văn K1.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2156/24/KLTTCT-TTPY ngày 15/3/2024 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
- Các kết quả chính:
- - Thương tích vết sẹo vùng đỉnh trái kích thước nhỏ: 1%.
- - Thương tích vết sẹo vành tai trái kích thước nhỏ: 1%.
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Văn K1 tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
Vật, lực tác động gây thương tích: Các thương tích do vật tày gây nên, lực tác động không mạnh.
Kết luận giám định bổ sung qua hồ sơ số 2367B/KLBSHS-PY ngày 14/6/2024 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
Trường hợp Hà Thị P sử dụng 01 hòn gạch vỡ (có đặc điểm theo mô tả trong bản ảnh nhận dạng gửi kèm) ném vào vùng đầu bên trái Lê Văn K1 gây được thương tích ở tai và đỉnh trái như kết luận giám định.
Cơ quan điều tra đã thu giữ, trưng cầu giám định 01 video trích xuất từ camera an ninh tại trước cửa nhà ông Lê Văn T, sinh năm 1971, trú tại thôn C, xã D, thành phố B ghi lại hình ảnh liên quan vụ việc.
Cơ quan điều tra đã cho Hà Thị P thực nghiệm điều tra. Kết quả P thực hiện thuần thục động tác cầm 01 hòn gạch vỡ ở tay phải ném trúng vào sườn của ông K1. Sau đó, P ở trong tư thế ngồi, dùng tay phải nhặt 01 hòn gạch vỡ ở dưới nền đất, ném trúng vào vùng đầu ông K1 đứng ở khoảng cách 02m.
Cơ quan điều tra đã cho Hà Thị P quan sát các viên gạch vỡ đã thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường. Kết quả P nhận ra viên gạch vỡ có kích thước (6x7)cm có đặc điểm giống với viên gạch mà P cầm ném vào đầu ông K1 gây thương tích.
Trong quá trình điều tra, ông K1 khai khi xảy ra xô sát ở trong cổng thì bị P ném gạch vỡ trúng sườn phải nên bỏ chạy đến cổng nhà bà N; khi ông K1 ngồi bệt xuống đất thì bị P cầm 01 hòn gạch vỡ ở tay phải đập một cái vào mang tai và đập một cái vào đỉnh đầu bên trái. Bị cáo P khai ném gạch trúng sườn ông K1 sau đó dùng gạch vỡ ném nhiều lần trong đó có 01 lần trúng vào đầu ông K1. Cơ quan điều tra cho ông K1 và P đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai. Căn cứ kết quả điều tra có cơ sở xác định toàn bộ thương tích 02% của ông K1 là do P ném gạch gây ra.
Vật chứng thu giữ gồm 08 viên gạch vỡ có nhiều đặc điểm, kích thước khác nhau và 01 hòn đá dạng đá lát nền được nhập kho vật chứng giải quyết theo quy định.
Bản Cáo trạng số 144/CT-VKS ngày 09 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hà Thị P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Thị P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu trên và xác định thương tích 02% của bị hại là do bị cáo gây ra.
Bị hại ông Lê Văn K1 khai toàn bộ thương tích 02% của ông là do bị cáo P gây ra, vì sau khi bị P ném gạch vỡ trúng sườn phải nên bỏ chạy đến cổng nhà bà N thì ông ngồi xuống đất thì bị P cầm 01 hòn gạch vỡ ở tay phải đập một cái vào mang tai và đập một cái vào đỉnh đầu bên trái.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo và bị hại đều không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Hà Thị P từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/7/2024. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu 08 viên gạch vỡ có nhiều đặc điểm, kích thước khác nhau và 01 hòn đá dạng đá lát nền để tiêu hủy.
- - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Hà Thị P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện cải tạo và giúp đỡ gia đình, trở thành công dân sống ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Người làm chứng đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án, xét thấy đã có lời khai của người làm chứng trong hồ sơ và sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án theo quy định.
[3] Về hành vi: Bị hại ông Lê Văn K1 khai bị cáo P cầm 01 hòn gạch vỡ ở tay phải đập một cái vào mang tai và đập một cái vào đỉnh đầu bên trái, bị cáo P khai dùng gạch ném vào đầu bị hại, ngoài lời khai của bị cáo, bị hại không có tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra do Cơ quan CSĐT Công an thành phố B thực hiện, Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2156/24/KLTTCT-TTPY ngày 15/3/2024 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B, Kết luận giám định bổ sung qua hồ sơ số 2367B/KLBSHS-PY ngày 14/6/2024 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 14/02/2024, ông Lê Văn K1 đến nhà anh Lê Văn G ở thôn C, xã D, thành phố B để chúc Tết. Ông K1 nói với Hà Thị P là vợ anh G về việc anh G còn nợ tiền vay của anh Nguyễn Văn Y nhưng chưa trả. P tức giận vì cho rằng vào ngày đầu năm mới nhưng ông K1 đến nhà đòi nợ nên đuổi ra khỏi nhà. Hai bên xảy ra mâu thuẫn, P cầm gạch vỡ ném đuổi ông K1 ra khỏi nhà trong đó có 01 lần ném vào sườn bên phải ông K1. Khi ông K1 đi ra khỏi cổng nhà thì P tiếp tục cầm gạch vỡ ném nhiều lần về phía ông K1 trong đó có 01 lần ném trúng vào đầu ông K1. Hậu quả làm ông K1 bị thương tích 02%. Hành vi của P là cố ý gây thương tích thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm.
Như vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Hà Thị P phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, vì thế hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật để có tác dụng giáo dục cải tạo riêng bị cáo, vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định cũng có một phần lỗi của bị hại trong vụ án, nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, nhằm đề cao chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội và tạo điều kiện cho bị cáo tự sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội. Do vậy không cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Văn K1 trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, không yêu cầu bị cáo P phải bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về phần bồi thường dân sự trong vụ án.
[9] Về vật chứng trong vụ án gồm: 08 viên gạch vỡ có nhiều đặc điểm, kích thước khác nhau và 01 hòn đá dạng đá lát nền không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Hà Thị P 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 (Một) năm về tội “Cố ý gây thương tích”. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về vật chứng: Tịch thu 08 viên gạch vỡ có nhiều đặc điểm, kích thước khác nhau và 01 hòn đá dạng đá lát nền để tiêu hủy.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định hoặc buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tú |
Bản án số 156/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 156/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
