Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN DU

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 156/2024/HSST

Ngày 29/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị An
  2. Bà Đào Thị Thu

Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vân Anh; Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại phòng xét xử Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành xét xử sơ thẩm theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 157/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2024/QĐXXST-HS ngày 26/7/2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn H, sinh năm 1994;

    Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Bùi Thị T1, sinh năm 1996; con: 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.

  2. Trương Hoàng L, sinh năm 2003;

    Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trương Công D, sinh năm 1982 và bà Hà Thị N1, sinh năm 1980; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có;

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.

  3. Nguyễn Mậu C, sinh năm 1988;

    Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Mậu C1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1965; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Đặng Thị Minh H1, sinh năm: 1990, đã ly hôn; con: 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con thứ hai sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2019;

    Tiền án: 01

    Tại Bản án số 45/2019/HSST ngày 24/4/2019, Toà án nhân dân huyện Tiên Du xử phạt C 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/02/2020. Chấp hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm ngày 28/5/2019. Đối với số tiền 9.000.000 đồng tiền bồi thường dân sự, do người bị hại không yêu cầu nên Cơ quan THADS huyện Tiên D1 không ra Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu. Tính đến thời điểm bị can phạm tội cũng chưa hết thời hiệu yêu cầu thi hành bản án.

    Tiền sự: không.

    Nhân thân:

    Tại Bản án số 52/2009/HSST ngày 12/5/2009, bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du xử phạt 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tai khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/6/2011. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 30/8/2009.

    Tại Bản án số 52/2015/HSST ngày 16/7/2015, bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2016. Chấp hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 24/9/2015.

    Bị cáo đầu thú ngày 29/5/2024 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Hà Văn L2, sinh ngày 02/02/2007; hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
  • Nguyễn Văn C2, sinh năm 1991; hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của Hà Văn L2:

  • Nguyễn Hữu C3 – Bí thư đoàn thanh niên thị trấn L, huyện T. Vắng mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

  • Cán bộ phụ trách tin học của Toà án nhân dân huyện Tiên Du và cán bộ phụ trách tin học của Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 02 giờ ngày 11/3/2024, Công an huyện T phối hợp cùng Công an xã Đ tiến hành kiểm tra hành chính nhà nghỉ trọ Bảo Anh của chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1986 ở thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh phát hiện tại phòng 602 có Trương Hoàng L, sinh ngày 2003 đăng ký hộ khẩu thường trú ở thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa và Hà Văn L2, sinh ngày 02/02/2007 đăng ký hộ khẩu thường trú ở thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra ma túy xác định Hoàng L và Văn L2 đều dương tính với ma túy Methamphetamin.

Tại bản Kết luận giám định số: 719/KL-KTHS ngày 14/3/2024 của Phòng PCông an tỉnh B, kết luận:

Chất bột màu trắng bên trong một túi nylon màu trắng có khối lượng là 0,0067 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

Quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, các bị cáo Trương Hoàng L, Nguyễn Văn H, khai nhận:

Khoảng 8 giờ ngày 07/3/2024, H đang đi làm thì nhận được tin nhắn từ số điện thoại 0336.864.xxx của Trương Hoàng L đến số điện thoại 0876.139.xxx của H, với nội dung “ Có gì không, em xuống chơi” ( ý Hoàng L hỏi H có ma túy không để xuống cùng sử dụng). Hưởng trả lời “Không, anh đang đi làm”. Hoàng L lại nhắn “Em có 200k” (ý nói Hoàng L có 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)). Hưởng trả lời “Anh không có nghìn nào”. Đến trưa ngày 07/3/2024, sau khi làm việc xong Hưởng nhắn tin cho Hoàng L bảo “Chiều nay anh được nghỉ” (ý H bảo Hoàng L xuống chỗ H để sử dụng ma túy). Hoàng L trả lời “14 giờ em xuống nhé em đi cùng bạn”. Hưởng nhắn “Đi một mình thôi”. Hoàng L trả lời “Em ở cùng thằng em, bỏ nó ở đây à, em đi cùng nó xuống nhé”, thì H trả lời “Thế nào cũng được xuống đầu thôn để đón anh”. Rồi Hưởng bảo Hoàng L trên đường xuống thì mua thêm ống hút với giấy bạc để sử dụng ma túy, Hoàng L đồng ý còn H đợi Hoàng L ở đầu làng thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Một lúc sau, Hoàng L điều khiển xe mô tô Honda wave, biển số 36L1 -245.46 của Hoàng L, chở Văn L2, xuống chỗ Hưởng đợi. Tại đây, H và Hoàng L đi vào quán điện thoại Nguyễn C2 của anh Nguyễn Văn C2, sinh năm 1991, đăng ký hộ khẩu thường trú ở thôn Đ, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội cầm cố chiếc điện thoại Oppo màu xanh của được 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). Anh C2 không có đủ tiền mặt nên đã chuyển khoản số tiền trên vào tài khoản 1023925739 Ngân hàng V của Hoàng L. Sau đó, H điều khiển xe chở Hoàng L và Văn L2 đi đến quán nước vỉa hè ở thôn Đ để uống nước, trên đường đi H đưa cho H ống hút, giấy bạc Hoàng L mua, H cất giấu ở túi quần. Đến khoảng 21h50 cùng ngày H chở Hoàng L, Văn L2 đến nhà nghỉ T2 gặp chị H2 để thuê phòng. Khi thuê phòng H không nói cho chị H2 biết mục đích thuê để sử dụng ma tuý. Chị H2 đưa cho H chìa khoá phòng 602. Hưởng đưa lại thìa khóa cho Hoàng L và Văn L2 lên trước, còn H lên sau cầm theo 03 chai nước ngọt C2 và 1 chai nước ngọt 247. Khi vào trong phòng, H đổ nước ở 1 chai C2 đi, lấy bật lửa gas hơ nóng nắp chai, dùng thìa khóa phòng nghỉ đục 2 lỗ trên lắp chai và lấy 2 đoạn ống hút Hoàng L đưa cho vào 2 lỗ. Hoàng L lấy nước sạch trong nhà tắm cho vào chai C2. Hưởng lấy mẩu giấy bạc quấn vào đầu một ống hút, đóng lắp chai lại tạo thành “Coóng” để sử dụng ma túy đá – ngựa và đặt ở mặt nền nhà sát giường. Sau khi chuẩn bị xong, H lấy điện thoại Iphone 8 Pluis màu đen của Hoàng L đăng nhập ứng dụng Facebook của H, tìm và lấy được số điện thoại của Nguyễn Mậu C, sinh năm 1998, đăng ký hộ khẩu thường trú ở thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Hưởng dùng điện thoại gọi từ số 0336.864.xxx của Hoàng L đến số điện thoại 0965.347.xxx của C để hỏi mua 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) ma túy đá – ngựa, C đồng ý và bảo H chuyển tiền đến số tài khoản 108873314210 Ngân hàng V1 của C. Hưởng bảo Hoàng L chuyển tiền cho C. Hoàng L đồng ý rồi chuyển 500.000 đồng từ tài khoản 1023925739 cho C. Sau khi nhận được tiền, C gọi lại hẹn H ra gần quán G thuộc thôn D, xã Đ để giao ma túy. Tại đây, C đưa cho H 01 (một) túi nylon màu trắng bên trong có 03 (ba) viên nén hình tròn màu hồng là ma túy ngựa và chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. Hưởng cầm số ma tuý vừa mua được giấu ở túi quần phía trước bên phải đi về nhà nghỉ T2. Khi về tới phòng 602, H cùng Hoàng L, Văn L2 ngồi trên giường. Hoàng L xé một mẩu giấy bạc đưa cho H để H làm “máng” sử dụng ma túy và lấy “Coóng” để lên giường. Hưởng lấy ma túy vừa mua được đổ hết vào “máng”, ném bỏ túi nylon chứa ma túy xuống gầm giường, dùng bật lửa gas đốt nóng “máng” cho ma túy tan ra bốc thành khói để hút qua “Coóng” vào cơ thể. Hưởng, H, Văn L2 hút 03 lần khói ma túy. Cụ thể trong quá trình sử dụng, có 01 lần Hưởng tự đốt ma túy qua “máng” thành khói cho H và Hoàng L sử dụng. Sau đó, H mời Văn L2 “thằng này có chơi không”. Văn L2 đồng ý thì H đốt ma túy cho Văn L2 sử dụng. Một lần Hoàng L đốt ma túy qua “máng” để H, Hoàng L và Văn L2 sử dụng. Một lần Hưởng, Hoàng L, Văn L2 tự đốt ma túy qua “máng” để sử dụng.

Sử dụng hết số ma túy mua được xong Hưởng, Hoàng L, Văn L2 nghỉ tại phòng 602 nhà nghỉ T2. Đến tối ngày 09/3/2024, H sử dụng điện thoại của Hoàng L gọi điện cho chị là Bùi Thị T1, sinh năm 1996, là vợ H, đến đón H về nhà. Trong khi chờ chị T1 đến đón, H tháo nắp chai C2 có gắn ống hút (nắp coóng), giấy bạc còn lại cất giấu vào trong túi quần, rồi vứt ở bãi rác dọc đường trên đường đi về nhà ở thôn Đ, xã Đ. Còn Hoàng L và Văn L2 tiếp tục ở tại phòng 602 nhà nghỉ T2 nghỉ, đến 02 giờ ngày 11/3/2024 thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện.

Ngày 12/6/2024, quá trình làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Mậu C đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân: Buổi chiều ngày 07/3/2024, C đã thuê xe ôm của một người đàn ông lạ mặt đi đến khu vực xã N, huyện G, thành phố Hà Nội tìm và mua được của một người đàn ông lạ mặt 01 (một) túi nylon màu trắng bên trong có chứa 04 (bốn) viên nén hình tròn màu hồng và chất tinh thể màu trắng là ma túy đá – ngựa với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Mua xong C sử dụng một phần ma túy đá ngựa vừa mua được phần còn lại C cất giấu để bán. Đến tối ngày 07/3/2024, C bán toàn bộ số ma tuý còn lại là 03 (ba) viên nén hình tròn màu hồng ma túy ngựa và chất tinh thể màu trắng để trong 01 túi nylon màu trắng cho H với giá 500.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 95/CT-VKSTD ngày 08/8/2024 của VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh truy tố Nguyễn Văn H, Trương Hoàng L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, truy tố Nguyễn Mậu C đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, bị cáo nhận tội và khai nhận: Khoảng hơn 22 giờ 30 phút ngày 07/3/2024, tại phòng 602 nhà nghỉ T2 của chị Nguyễn Thị H2 ở thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn H và Trương Hoàng L đã tổ chức cho bản thân các đối tượng và Hà Văn L2, sinh ngày 02/02/2007 sử dụng trái phép chất ma tuý Methamphetamine cụ thể như sau: Nguyễn Văn H thuê phòng nghỉ, chi tiền mua ma tuý và trực tiếp liên lạc, giao dịch mua bán ma tuý, H mua được 03 viên nén hình tròn màu hồng và tinh thể màu trắng là ma tuý đá, và ma tuý ngựa, chuẩn bị công cụ làm “Coóng”, bảo Trương Hoàng L mua ống hút làm “Coóng”, mua giấy bạc để đốt ma tuý. Sau đó, H, Hoàng L và Văn L2 cùng sử dụng hết ma tuý trên. Nguồn gốc số ma tuý H, Trương Hoàng L, Hà Văn L2 sử dụng là do H mua của Nguyễn Mậu C với giá 500.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Văn H, Trương Hoàng L đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và Nguyễn Mậu C đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn H từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt Trương Hoàng L từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Mậu C từ 30 tháng tù đến 32 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong theo quy định pháp luật.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 8 plus màu đen có gắn sim số 0336.864.037 của Trương Hoàng L; 01 chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh đen, số máy JA39E-2534040, số khung RLHJA3924NY037651, biển số 36L1-245.46 đăng ký xe mang tên Trương Hoàng L; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh không gắn thẻ sim của Nguyễn Văn H.

Về bồi thường dân sự: Anh C2 không yêu cầu H phải bồi thường anh số tiền 1.500.000 đồng tiền cầm cố chiếc điện thoại di động.

Các bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa, đủ cơ sở khẳng định: Khoảng hơn 22 giờ 30 phút ngày 07/3/2024, tại phòng 602 nhà nghỉ T2 của chị Nguyễn Thị H2 ở thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn H và Trương Hoàng L đã tổ chức cho bản thân các đối tượng và Hà Văn L2, sinh ngày 02/02/2007 sử dụng trái phép chất ma tuý Methamphetamine cụ thể như sau: Nguyễn Văn H thuê phòng nghỉ, chi tiền mua ma tuý và trực tiếp liên lạc, giao dịch mua bán ma tuý, H mua được 03 viên nén hình tròn màu hồng và tinh thể màu trắng là ma tuý đá, và ma tuý ngựa, chuẩn bị công cụ làm “Coóng”, bảo Trương Hoàng L mua ống hút làm “Coóng”, mua giấy bạc để đốt ma tuý. Sau đó, H, Hoàng L và Văn L2 cùng sử dụng hết ma tuý trên. Nguồn gốc số ma tuý H, Trương Hoàng L, Hà Văn L2 sử dụng là do H mua của Nguyễn Mậu C với giá 500.000 đồng. Do vậy, có đủ căn cứ để xét xử bị cáo Nguyễn Văn H và Trương Hoàng L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và bị cáo Nguyễn Mậu C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, ma túy cũng là nguyên nhân của các tội phạm hình sự khác. Vì vậy, hành vi của các bị cáo cần được xử phạt nghiêm. Việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản riêng, miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[4] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân:

Bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Trương Hoàng L đều chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nguyễn Mậu C có nhân thân xấu: Tại bản án số 52/2009/HSST ngày 12/5/2009, bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du xử phạt 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/6/2011. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 30/8/2009; Tại bản án số 52/2015/HSST ngày 16/7/2015, bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999. Chấp hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 24/9/2015.

Về tình tiết tăng nặng: C chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Các bị cáo H, bị can L không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H có thời gian phục vụ trong quân ngũ, gia đình bị cáo đang thờ cúng liệt sĩ; Bị cáo C đầu thú. Do đó, bị cáo H và bị cáo C được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo H và bị cáo L thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là đồng phạm. Bị cáo H giữ vai trò chính, bị cáo là người bỏ tiền, liên hệ và mua ma tuý, thuê địa điểm sử dụng ma tuý, bảo bị cáo L chuẩn bị và bản thân tự chuẩn bị công cụ sử dụng ma tuý. Bị cáo L giữ vai trò giúp sức cho bị cáo H, mua công cụ sử dụng ma tuý để cùng sử dụng ma tuý với bị cáo H và Hà Văn L2. Do vậy, bị cáo H phải chịu hình phạt cao hơn L2.

[5] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong theo quy định pháp luật cần tịch thu, tiêu hủy là đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone 8 plus màu đen có gắn sim số 0336.864.037 của Trương Hoàng L; 01 chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh đen, số máy JA39E-2534040, số khung RLHJA3924NY037651, biển số 36L1-245.46 đăng ký xe mang tên Trương Hoàng L các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước là đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh không gắn thẻ sim do anh Nguyễn Văn C2 giao nộp, đây là điện thoại của bị cáo H. Bị cáo cầm cố lấy tiền mua ma tuý để tổ chức sử dụng, do đó, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 vỏ chai nước C2, 02 đoạn ống hút được sử dụng là “Cóong” hút ma tuý, giấy bạc để đốt ma tuý, H đã vứt ở bãi rác trên đường về nhà. Hưởng không nhớ cụ thể vị trí vứt nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ truy tìm và thu hồi được.

[6] Về bồi thường dân sự: Anh C2 không yêu cầu H phải bồi thường cho anh số tiền 1.500.000 đồng tiền cầm cố điện thoại di động nên không xem xét giải quyết.

[7] Liên quan trong vụ án:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Hà Văn L2, Văn L2 thuê địa điểm, không chuẩn bị công cụ phương tiện, không cung cấp ma tuý cũng như không có hành vi gì khác giúp sức để đưa ma tuý vào cơ thể của người khác. Do đó, Văn L2 không đồng phạm với Nguyễn Văn H và Trương Hoàng L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Công an huyện T đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Văn L2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định pháp luật.

Đối với chị Nguyễn Thị H2 là chủ cơ sở kinh doanh nhà nghỉ T2. Quá trình điều tra xác định, khi cho các đối tượng thuê phòng, chị H2 không biết, các đối tượng không nói cho chị H2 biết mục đích các đối tượng thuê phòng để sử dụng ma tuý. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý đối với chị H2 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” hay “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” là phù hợp. Chị H2 thu tiền nghỉ của khách theo giờ và theo ngày như các cơ sở kinh doanh nhà nghỉ hoạt động bình thường, ngoài ra cơ sở kinh doanh chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về ANTT. Ngày 24/6/2024, UBND huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị H2 về các hành vi: “Hoạt động kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự khi chưa được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự” với số tiền là 15.000.000 đồng; “Người đứng đầu cơ sở cho thuê lưu trú để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực do mình quản lý” với số tiền là 15.000.000 đồng là đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Mậu C ngày 07/3/2024, C không xác định được nơi C sử dụng ma tuý thuộc địa phận thôn, xã, huyện nào, do đó không có căn cứ để ra quyết định xử lý hành chính đối với C về hành vi trên.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Mậu C, C không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa có căn cứ để điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

Đối với chị Đỗ Thị H3 là vợ của Nguyễn Văn H. Khi đến đón H tại nhà nghỉ T2 đi về nhà. Chị H3 không biết H sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chỉ gọi hỏi nhắc nhở là đúng quy định pháp luật.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H còn khai nhận trước khi mua ma tuý của Nguyễn Mậu C, H rủ Nguyễn Duy Đ, sinh năm 1994 ở cùng thôn với H mua và cùng sử dụng ma tuý. Hưởng góp với Đ 300.000 đồng để mua ma tuý. Tuy nhiên, Đ không mua được ma tuý nên đã trả lại 300.000 đồng tiền mua ma tuý cho H. Đ không tham gia và không biết việc H tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý với Trương Hoàng L và Hà Văn L2. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” mà chỉ gọi hỏi nhắc nhờ là đúng quy định pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Văn C2, khi nhận cầm cố điện thoại của Nguyễn Văn H, anh C2 không biết mục đích để H lấy tiền mua ma tuý để tổ chức sử dụng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chỉ gọi hỏi nhắc nhở là phù hợp.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H, Trương Hoàng L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và bị cáo Nguyễn Mậu C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, khoản 1,3 Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Văn H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (29/8/2024) theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, khoản 1,3 Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Xử phạt Trương Hoàng L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (29/8/2024) theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Mậu C 32 (Ba mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (29/8/2024) theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong theo quy định pháp luật.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 8 plus màu đen có gắn sim số 0336.864.037 của Trương Hoàng L; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh không gắn thẻ sim, 01 chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh đen, số máy JA39E-2534040, số khung RLHJA3924NY037651, biển số 36L1-245.46 đăng ký xe mang tên Trương Hoàng L.

3. Về bồi thường dân sự: không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Công H4, Trương Hoàng L, Nguyễn Mậu C phải chịu 200,000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thười hạn 15 ngày kể từ khi được tống đạt bản án, hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

THẨM

  • - TAND, VKSND tỉnh;
  • - VKS, CA, THADS huyện Tiên Du;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BN;
  • - Những người tham gia TT;
  • - Lưu HS, VP;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Anh Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2024/HSST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 156/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TTTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger