Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA VÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2023/HSST

Ngày 27/12/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hường

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Hoan
  2. Ông Nguyễn Đại Huy

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 153/2023/HSST ngày 08/12/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2023/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với

1.Bị cáo: Đỗ Văn T, sinh năm: 1970; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện B, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 12/12 ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Danh C (đã chết); Con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1931. Vợ là Nguyễn Thị C1, sinh năm 1971; Có ba con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

Anh Cao Xuân N1, sinh năm 1987

Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh

( Vắng mặt tại phiên tòa )

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Cao Xuân Đ, sinh năm 1985

Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh

( Vắng mặt tại phiên tòa )

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 17/11/2022, anh Cao Xuân Đ mượn chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS: 99A-216.59 của anh Cao Xuân Nhất 1 em trai ruột của anh Đ để đưa anh Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn T1 là bạn của anh Đ về quê của anh P và anh T1 ở thôn Đ, S, B, Hà Nội. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, anh Đ, anh P và anh T1 đi đến thôn Đ, S, B. Anh Đ dừng, đỗ xe ở đường liên thôn rồi đi vào nhà ông Nguyễn Huy T2 (Trú tại: thôn Đ, S, B) cùng anh P anh T1 để ăn cỗ. Vị trí anh Đ đỗ xe là ở đầu ngõ vào nhà ông T2, cách khoảng 70m.

Cùng khoảng thời gian trên, Đỗ Văn T ở nhà một mình. Bà Nguyễn Thị C1 là vợ của T đi làm và Đỗ Văn H là con trai của T đi học vắng nhà. T ở nhà uống rượu một mình và bị say rượu, không còn tỉnh táo. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, thấy vợ, con chưa về, T lấy ở đống củi trong vườn nhà một đoạn gỗ keo (dài khoảng 50 cm, rộng khoảng 15 cm, một đầu dày khoảng 02cm, đầu còn lại vát mỏng) cầm theo để đi tìm vợ con. T đi ra cổng, về hướng đầu ngõ, thấy chiếc xe ô tô Toyota Vios, BKS: 99A-216.59 của anh Cao Xuân Đ đỗ cách nhà T khoảng 50m. Do say rượu, T tự tưởng tượng rằng vợ, con của T bị nhốt trong chiếc xe ô tô này. T lấy một miếng bê tông kích thước khoảng (40x30x4) cm ở đường thôn, đặt ở trước bánh xe trước bên trái của xe ô tô để chặn lại không cho xe đi. T nhìn qua kính chắn gió phía trước xe ô tô không thấy ai, T mở cửa trước, cửa sau xe ô tô nhưng không mở được. T nhìn qua kính chắn gió phía sau xe ô tô nhưng không nhìn được do bên trong bị mờ. Nghĩ vợ, con ở trong xe ô tô, T đứng ở cạnh sườn đuôi xe bên trái, cầm đoạn gỗ keo mang theo (không nhớ rõ cầm tay nào), giơ lên đập liên tiếp nhiều phát theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào kính chắn gió phía sau của xe ô tô khiến kính chắn gió bị vỡ thủng ở khu vực góc trên bên trái kích thước (25x25) cm, phần còn lại của kính chắn gió bị rạn nứt toàn bộ. T nhìn vào bên trong xe không thấy vợ, con đâu nên đi về. Trên đường đi về, T vứt bỏ đoạn gỗ nhưng không nhớ vứt ở đâu.

Hậu quả: Vỡ kính chắn gió phía sau, làm móp viền nóc phía sau bên trái của chiếc xe ô tô Toyota Vios, BKS: 99A-216.59 của anh Cao Xuân N1

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 148/KL-ĐGTS, ngày 07/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện B, kết luận: “Chi phí thay mới kính chắn gió phía sau và chi phí sửa chữa viền nóc phía sau bên trái bị 02 vết móp của chiếc xe ô tô Toyota Vios, BKS: 99A-216.59, số khung: 2NRX273565, số máy: 9F39J5033982, sản xuất năm 2018 là 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng).”

Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương; ghi lời khai người thân trong gia đình, hàng xóm của Đỗ Văn T, xác định: Trong cuộc sống hằng ngày, Đỗ Văn T thường xuyên uống rượu, đi lang thang vào ban đêm, nói năng linh tinh về ma quỷ. Đỗ Văn T có biểu hiện về bệnh tâm thần. Gia đình không cho Đỗ Văn T đi khám chữa, điều trị tại cơ sở y tế nào, không có hồ sơ, tài liệu gì về bệnh lý. Ngày 08/2/2023, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 67/QĐ-CSĐT trưng cầu Viện Pháp y tâm thần T3 tiến hành giám định pháp y tâm thần để giám định khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của Đỗ Văn T. Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 214/KLGĐ, ngày 06/7/2023 của Viện pháp y tâm thần T4, kết luận: “Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội đối tượng Đỗ Văn T bị bệnh Rối loạn loạn thần trực tiếp do sử dụng rượu/Hội chứng nghiện rượu. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F10.5/F10.2. Tại các thời điểm trên, đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại thời điểm giám định, đối tượng Đỗ Văn T có hội chứng nghiện rượu hiện đang cai nhưng ở trong môi trường được bảo vệ. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F10.21. Đối tượng đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.”

* Vật chứng thu giữ:

  • Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu sơn bạc, BKS: 99A-216.59, số khung: 2NRX273565, số máy: 9F39J5033982. Quá trình điều tra, xác định: Chủ xe là anh Cao Xuân N1 (SN: 1987; Trú tại: thôn N, xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh). Ngày 17/11/2022, anh Cao Xuân Nhất 1 em trai ruột của anh Cao Xuân Đ đã cho anh Cao Xuân Đ mượn chiếc xe ô tô trên để đi đến xã S, B, Hà Nội. Anh Cao Xuân Đ đã có đơn xin nhận lại tài sản là chiếc xe ô tô trên gửi Cơ quan CSĐT. Cơ quan CSĐT tiến hành tra cứu vật chứng xác định chiếc xe ô tô trên không phải là vật chứng. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số: 02/QĐ-CSĐT, ngày 29/12/2022 để trao trả chiếc xe ô tô trên cho anh Cao Xuân Nhất 1 chủ sở hữu hợp pháp.
  • Đối với đoạn gỗ có kích thước (61x8x5) cm được phát hiện và thu giữ trong quá trình khám nghiệm mở rộng hiện trường. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì ra quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì để phục vụ quá trình giải quyết vụ án.

* Về dân sự: Gia đình Đỗ Văn T đã bồi thường cho anh Cao Xuân Đ số tiền 9.000.000 đồng. Quá trình điều tra, anh Cao Xuân Nhất 1 em trai của anh Đ trình bày: anh Đ có hành vi vi phạm pháp luật đã bị Công an huyện Q, tỉnh Bắc Ninh bắt tạm giam. Anh Nhất là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe ô tô Toyota Vios, BKS: 99A-216.59 liên quan đến vụ việc sẽ thay thế anh Đ làm việc với Cơ quan CSĐT trong quá trình giải quyết vụ án. Anh N1 không có yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự đối với Đỗ Văn T.

Tại Cáo trạng số 150/CT - VKS, ngày 30/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn T từ 9 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng đến 24 tháng, kể từ khi tuyên án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

NHÂN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên của huyện B trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại, tố cáo gì. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét về hành vi vi phạm của bị cáo bị truy tố: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo Đỗ Văn T như lời khai của bị cáo tại Cơ quan tra điều tra; phù hợp biên bản khám phương tiện, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản thu giữ tang vật CQĐT thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, như vậy HĐXX có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 17/11/2022 tại thôn Đ, xã S, huyện B, Hà Nội. Bị cáo Đỗ Văn T bị chứng bệnh rối loạn loạn thần trực tiếp do sử dụng rượu, đã sử dụng 01 đoạn gậy gỗ có kích thước (61x8x5) đập vỡ kính chắn gió phía sau, làm móp viền nóc phía sau bên trái của chiếc xe ô tô Toyota Vios, BKS: 99A-216.59 của anh Cao Xuân N1, gây thiệt hại tài sản theo kết luận định giá số 148/KL-ĐGTS ngày 19/12/2022 của Hội đồng định giá là 2.200.000 đồng. Hành vi của bị cáo Đỗ Văn T thực hiện đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Bị cáo Đỗ Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội có rối loạn loạn thần trực tiếp do sử dụng rượu nhưng theo quy định tại Điều 13 BLHS, bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được Pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả số tiền 9.000.000đ. Do vậy, HĐXX áp dụng điểm i, s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng.

Xét toàn diện các yếu tố hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. HĐXX xét thấy: Tính chất hành vi của bị cáo ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 BLHS áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo ấn định một thời gian thử thách, giao bị cáo về nơi cư trú để giám sát giáo dục cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Anh Cao Xuân N1 xác nhận anh trai Cao Xuân Đ đã nhận bồi thường số tiền 9.000.000đ từ gia đình bị cáo T. Anh N1, anh Đ đều không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét phần trách nhiệm dân sự của bị cáo.

[5] Về vật chứng:

  • Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu sơn bạc, BKS: 99A-216.59, số khung: 2NRX273565, số máy: 9F39J5033982. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số: 02/QĐ-CSĐT, ngày 29/12/2022 để trao trả chiếc xe ô tô trên cho anh Cao Xuân Nhất 1 chủ sở hữu hợp pháp. Quyết định xử lý tài sản của Cơ quan Điều tra là đúng pháp luật.
  • Đối với đoạn gỗ có kích thước (61x8x5) cm được phát hiện và thu giữ trong quá trình khám nghiệm mở rộng hiện trường là công cụ, phương tiện bị cáo Đỗ Văn T sử dụng phạm tội, xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ: Khoản 1 Điều 178; điểm i, s, b khoản 1 Điều 51; Điều 65, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2.Xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về hình phạt: Bị cáo Đỗ Văn T 12 ( Mười hai ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Văn T cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện B, Tp Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự”.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Văn T.

3. Về xử lý vật chứng vụ án :

- Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn gỗ có kích thước (61x8x5) cm đã mục nát (Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/12/2023)

4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đối với phần liên quan đền quyền nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Ba Vì;
  • - Công an H. Ba Vì;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự H. Ba Vì;
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi,
  • nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2023/HSST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (cố ý làm hư hỏng tài sản)

  • Số bản án: 156/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy hoại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger