|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 156/2024/HSPT
Ngày: 16/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Yên.
Các thẩm phán: Ông Vũ Thế Phương.
Ông Nguyễn Đình Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Nhi - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 15/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 94/2024/QĐXXPT-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024. Do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 391/2023/HSST ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo kháng cáo: Lê Văn T (tên gọi khác: không), sinh năm 1972 tại tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở hiện nay: khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: thiên chúa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Q, sinh năm 1931 (đã chết) và bà Phạm Thị L, sinh năm 1932
Bị cáo có vợ tên Trịnh Thị Thanh H, (sinh năm 1977) và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị tạm giữ từ ngày 14/3/2022, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Ngoài ra còn có các bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo và không bị kháng nghị nên không triệu tập.
(Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 13/3/2022 sau khi dự tiệc sinh nhật thì Nguyễn Văn P, Trần Thị Thùy D, Nguyễn Thành Đ (chồng D), Trần Minh N (em D), Phạm Chí T1, Hứa Thị Ngọc Á (vợ T1) và Nguyễn Văn L1 (gọi tắt là nhóm P) thống nhất rủ nhau cùng góp tiền mua ma túy và thuê nhà nghỉ để sử dụng. Cả nhóm 07 người thống nhất ai có tiền tự ứng ra trước để trả tiền thuê địa điểm, mua ma túy, chuẩn bị loa đài, đèn chớp để sử dụng và ngày hôm sau sẽ chia đều 07 phần để hoàn trả tiền cho nhau.
Sau khi bàn bạc thống nhất thì cả nhóm 07 người sử dụng xe mô tô chở nhau đến nhà nghỉ Minh Minh H1 - Minh H2 tại khu phố P, thị trấn H, huyện N. L1 gặp Lê Văn T (chủ nhà nghỉ) thuê phòng sử dụng ma túy. T cho thuê phòng và cung cấp một chiếc đĩa sứ, 01 tờ tiền 10.000 đồng, 01 thẻ nhựa ATM, 05 chai nước suối, 01 chai Coca với tổng số tiền là 2.000.000 đồng. D là người trực tiếp trả số tiền 2.000.000 đồng cho T.
P điện thoại cho Phạm Hồng N1 mua 04 viên ma túy dạng kẹo, một gói ma túy dạng khay với giá 4.000.000 đồng, hẹn giao ma túy tại nhà nghỉ M - Minh H2 và nợ tiền N1.
N1 điện thoại cho Huỳnh Văn T2 nhờ T2 mang ma túy đi bán cho P. T2 đồng ý điều khiển xe mô tô biển số 60C2-793.23 tới gặp N1 nhận ma túy rồi mang đến nhà nghỉ M - Minh H2 giao cho P.
L1 sử dụng điện thoại di động liên lạc qua facebook với 01 đối tượng không rõ lai lịch có tài khoản tên “Nana” để thuê loa và đèn chớp trang trí phòng Vip6 để sử dụng ma túy. Sau khi nhận loa và đèn thì T1 đã trả tiền thuê hết 600.000 đồng.
Sau khi đã mua được ma túy, trang bị loa, đèn cùng các dụng cụ sử dụng ma túy, Đ bẻ 03 viên ma túy dạng kẹo thành các phần nhỏ và bỏ ma túy khay vào đĩa sứ nấu lên cho Đ, D, P, N, L1, T1 và Á cùng nhau sử dụng ma túy. Trong khi nhóm P đang sử dụng ma túy tại phòng Vip 6, nhà nghỉ M - Minh H2 đến 23 giờ cùng ngày, thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ trong phòng Vip6: 01 gói nylon hàn kín 02 đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng (kí hiệu M11), 01 viên nén màu xám (kí hiệu M12), 01 đĩa bằng sứ, 01 thẻ ATM, 01 tờ tiền 10.000 đồng được cuộn tròn, 01 hộp quẹt gas, 01 cái loa màu xám, 02 cái đèn chớp màu đen, 01 cái đèn xoay.
- Thu giữ của Lê Văn T:
- + Số tiền 2.000.000 đồng thu lợi từ việc cho thuê phòng;
- + 01 cuốn sổ quản lý kinh doanh dịch vụ lưu trú, 01cuốn lịch bàn và 01 chiếc điện thoại hiệu Samsung của Lê Văn T.
- Thu giữ của Nguyễn Văn P:
- + 01 xe mô tô biển số 59L2-621.79 do P mượn của anh Nguyễn Văn C (sinh năm 1985, ngụ tại ấp L, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai). Anh C không biết P mượn xe dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh C.
- + 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 0938.579.xxx, P sử dụng liên lạc với N1 mua ma túy.
- Thu giữ của Nguyễn Văn L1: 01 chiếc điện thoại hiệu Vivo gắn sim số 0582.355442, L1 sử dụng liên lạc thuê loa, đèn phục vụ cho việc sử dụng ma túy.
- Thu giữ của Nguyễn Thành Đ: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng là tài sản của Đ không liên quan đến việc phạm tội.
- Thu giữ của Trần Minh N: 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 60AM-075.12, N sử dụng chở đồng phạm đi sử dụng ma tuý.
- Thu giữ của Phạm Chí T1: 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 60G1-014.58, T1 sử dụng chở đồng phạm đi sử dụng ma tuý.
Đối với Huỳnh Văn T2, sau khi giúp N1 bán ma túy cho nhóm của P. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 14/3/2022, T2 điều khiển xe mô tô biển số 60C2-793.23 đến khu vực ngã ba B, xã P, huyện N gặp đối tượng tên H3 (chưa rõ lai lịch) mua 02 viên ma túy dạng kẹo và 01 gói ma túy dạng khay với giá 2.000.000 đồng về sử dụng. Trên đường T mang ma túy về nhà trọ thì bị Công an thị trấn H kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng tài sản thu giữ của T2 khi bị bắt giữ gồm:
- - 01 gói nylon màu trắng hàn kín 02 đầu bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M1) và 02 viên nén màu xám (kí hiệu M2).
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone có gắn sim số 0798.207.xxx Tươi sử dụng liên lạc để bán ma túy cho P.
- - 01 mô tô biển số 60C2-793.23 Tươi mượn của anh Trần Phi N2 (sinh năm 2001, ngụ tại ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai). Anh N2 không biết T2 mượn xe dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh N2.
Tiến hành tiến bắt khẩn cấp Phạm Hồng N1 và khám xét khẩn cấp nơi ở của N1, Cơ quan điều tra thu giữ:
- - 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng (đã được niêm phong có chữ ký của Phạm Hồng N1).
- - 01 đĩa sứ, 01 thẻ ATM.
- - 500.000 đồng.
- - 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone X có gắn sim số 0779.788104 của N1 sử dụng liên lạc bán ma túy cho P.
Tại Bản Kết luận giám định số 542/KLGĐ-PC09, ngày 21/3/2022 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận (mẫu vật thu giữ tại phòng Vip 6): Mẫu chất màu trắng (kí hiệu M11) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,0837gam loại: Ketamine; Mẫu 01 viên nén màu xám (kí hiệu M12) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,3683 gam loại: MDMA và mẫu 01 đĩa sứ hình tròn, 01 thẻ nhựa và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn được niêm phong gửi đến giám định đều tìm thấy chất ma túy loại Ketamine, mẫu ở dạng vết nên không xác định được khối lượng.
Tại Bản Kết luận giám định số 543/KLGĐ-PC09, ngày 21/3/2022 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận (mẫu vật thu giữ trên người Huỳnh Văn T2): Mẫu tinh thể màu trắng (kí hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,8332gam loại: Ketamine; Mẫu tinh thể màu trắng (kí hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,7864 gam loại: MDMA.
Tại Bản Kết luận giám định số 544/KLGĐ-PC09, ngày 21/3/2022 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận (mẫu vật thu giữ tại chỗ ở của Phạm Hồng N1): Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong (có chữ ký của Phạm Hồng N1) gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5456gam loại: Ketamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
- Đối với người đàn ông tên H3 đã bán ma túy cho Huỳnh Văn T2 và đối tượng cho L1 thuê loa, đèn, do chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
- Các đối tượng Đoàn Thị Huyền T3, Võ Tú T4, Nguyễn Duy L2, Thuận Thị Quỳnh N3 và Dương Thị Kim N4 đều xác định đã sử dụng ma túy ở huyện L, sau đó đến thuê phòng Vip 5 nhà nghỉ M để ngủ, không tổ chức sử dụng ma túy tại nhà nghỉ. Tại phòng V cũng không phát hiện thu giữ được đồ vật gì liên quan đến việc sử dụng ma túy. Do vậy cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện N đã có văn bản thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L xác minh xử lý, đồng thời ra quyết định xử phạt hành chính Trân, T4, L2, Như, N4 theo quy định.
- Trong khi các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Thành Đ, Trần Thị Thùy D, Trần Minh N, Nguyễn Văn L1, Phạm Chí T1, Hứa Thị Ngọc Á đang sử dụng ma túy và sẽ sử dụng hết số ma túy còn lại nếu không bị bắt quả tang. Do vậy không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với số ma túy còn lại bị thu giữ khi bắt quả tang.
- Đối với số ma túy thu giữ tại nhà của Phạm Hồng N1 (N1 khai tàng trữ để sử dụng) có khối lượng 0,5456gam loại Ketamine nên không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 392/2023/HSST ngày 08/12/2023 của tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đã Quyết định:
-
Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Điều 17, Điều 38, điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017)
Xử phạt bị cáo Phạm Hồng N1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2022.
-
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T2 phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 17, Điều 38, điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 58, khoản 1 Điều 251, điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017). Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T2 02 (hai) năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2022.
-
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Thành Đ, Trần Thị Thùy D, Trần Minh N, Nguyễn Văn L1, Phạm Chí T1, Hứa Thị Ngọc Á, Lê Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 17, Điều 38, điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, điểm b, khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017)
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2022.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2022.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Thùy D 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2023 nhưng được tính trừ thời gian tạm giữ từ 14/3/2022 đến ngày 23/3/2022.
Xử phạt bị cáo Phạm Chí T1 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2022.
Xử phạt bị cáo Hứa Thị Ngọc Á 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2023 nhưng được tính trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2022 đến ngày 23/3/2022.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2022.
Căn cứ Điều 17, Điều 38, điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017)
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 14/3/2022. Bản án hình sự sơ thẩm số 168/2022/HS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 14/3/2022 về tội “ Cố ý gây thương tích”. Buộc bị cáo Nguyễn Văn L1 phải chịu chung hình phạt của 02 (hai) bản án là 07 (bảy) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2022.
Căn cứ Điều 17, Điều 38, điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017)
Xử phạt bị cáo Trần Minh N 07 (bảy) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 14/3/2022. Bản án hình sự sơ thẩm số 168/2022/HS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo Trần Minh N 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 14/3/2022 về tội “ Cố ý gây thương tích”. Buộc bị cáo Trần Minh N phải chịu chung hình phạt của 02 (hai) bản án là 08 (tám) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2022.
- Ngoài ra bản án còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo.
- Ngày 22/12/2023 bị cáo Lê Văn T kháng cáo bản án xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 21/12/2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 859/QĐ-VKSNT đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phúc thẩm vụ án theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Văn T.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Về kháng cáo của bị cáo cho rằng cấp sơ thẩm xét xử quá nặng nên xin giảm nhẹ hình phạt. Đối với kháng cáo của bị cáo T là không có cơ sở chấp nhận. Bởi vì cấp sơ thẩm đã xử bị cáo 7 năm tù là mức thấp nhất của khung hình phạt và bị cáo T giữ vai trò cao trong vụ án. Nhưng cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù là quá nhẹ, không tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện, không phân hóa vai trò giữa bị cáo và các bị cáo còn lại trong vụ án và không đảm tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm. Do đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch có kháng nghị phúc thẩm số 859/QĐ-VKSNT ngày 21/12/2023 của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phúc thẩm vụ án theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Văn T. Về Kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo T là có cơ sở. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, chấp nhận kháng nghị phúc thẩm số 859/QĐ-VKSNT ngày 21/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn T nộp trong thời hạn luật định và kháng nghị phúc thẩm số 859/QĐ-VKSNT ngày 21/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch ban hành trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn T, X thấy, T là chủ nhà nghỉ, khi biết nhóm của P đến thuê phòng để sử dụng trái phép chất ma túy thì đồng ý và cho thuê địa điểm, cung cấp nước uống, đĩa sứ... cho nhóm của P để sử dụng trái phép chất ma túy là phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với vai trò là đồng phạm.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đến sự quản lý Nhà nước về chất ma túy; là nguyên nhân làm lan tràn tệ nạn xã hội, nghiện ma túy; gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, ảnh hưởng đến cuộc sống, kinh tế và sự phát triển bình thường của gia đình người nghiện; là một phần nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác. Việc tổ chức sử dụng ma túy là trái pháp luật nhưng vì nhằm thu lợi bất chính nên đã hành động phạm tội. Vì vậy, mức hình phạt áp dụng phải nghiêm và áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo gây ra; đồng thời có tác dụng răn đe và giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và đạt được mục đích phòng ngừa chung tội phạm. Tại cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 7 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định khoản điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm xét xử quá năng cho bị cáo nên xin giảm nhẹ hình phạt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã được cấp sơ thẩm xem xét giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và xử phạt bị cáo 7 năm tù là không nặng như kháng cáo của bị cáo đã nêu, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có cơ sở chấp nhận. Bởi vì cấp sơ thẩm đã xử bị cáo 7 năm tù là mức thấp nhất của khung hình phạt và bị cáo cũng không có 2 tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên không được xử dưới khung hình phạt. Do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[3] Về kháng nghị phúc thẩm số 859/QĐ-VKSNT ngày 21/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phúc thẩm vụ án theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Văn T. Kháng nghị cho rằng: trong vụ án T là (chủ nhà nghỉ M) đã cung cấp địa điểm, công cụ cho bị cáo P cùng 06 đồng phạm khác thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên T giữ vai trò cao trong vụ án. Nhưng cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù là quá nhẹ, không tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện, không phân hóa vai trò giữa bị cáo và các bị cáo còn lại trong vụ án và không đảm tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.
Về kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo. Xét thấy, bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, gia đình bị cáo có công với cách mạng có cha, mẹ và ông, bà nội được nhà nước tặng huân chương kháng chiến chống mỹ hạng nhất. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo 7 năm tù cũng là nghiêm khắc nên không cần tiết tăng hình phạt đối với bị cáo.
Do đó, không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Lê Văn T.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Đối với việc đề nghị chấp nhận kháng nghị phúc thẩm số 859/QĐ-VKSNT ngày 21/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T; không chấp nhận kháng nghị phúc thẩm số 859/QĐ-VKSNT ngày 21/12/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số : 392/2023/HSST ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai về hình đối với bị cáo Lê Văn T.
Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2022.
Về án phí: Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:;
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Vĩnh Yên |
Bản án số 156/2024/HSPT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 156/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
