|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 156/2024/HS-ST Ngày: 25-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Tuyết, bà Lê Thị Kiều Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim A - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa hình sự sơ thẩm số 05/2024/TB-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Hà Văn P
(tên gọi khác: L), sinh ngày 22 tháng 7 năm 1986 tại Bình Thuận
Nơi cư trú: khu phố D, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: lao động biển; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn B và bà Nguyễn Thị M; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: ngày 23/6/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án số 86/HSST, chấp hành xong ngày 06/10/2022; tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại khu phố D, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Trần Thị N, sinh năm 1951 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1992 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Người làm chứng: + Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
+ Bà Lê Thị Mỹ H1, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 29/5/2023, ông Nguyễn Văn T đến nhà của Hà Văn P ở khu phố D, phường Đ, TP . để nhậu cùng Pháp. Trong lúc nói chuyện, Pháp biết được T đang cầm thế 01 chiếc nhẫn vàng ở tiệm cầm đồ Năm Cườm do bà Trần Thị N làm chủ. Khi nhậu xong, ông T ngủ lại tại nhà của Pháp.
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 30/5/2023, Hà Văn P thức dậy và nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc nhẫn vàng Tâm đang cầm thế tại tiệm C1. Pháp lục trong túi quần dài của ông T để gần nơi ông T đang nằm ngủ thì phát hiện trong túi quần của T có 01 chiếc ví, bên trong ví có 01 khế ước cầm đồ (nội dung T có cầm thế 01 chiếc nhẫn vàng 18K, trọng lượng 2,84 chỉ tại tiệm C1 ở khu phố D, phường P) và 01 Căn cước công dân của T. Pháp lấy khế ước cầm đồ và Căn cước công dân của T đến công viên H thuộc phường P gặp bà Nguyễn Thị Kim H. Pháp nói dối với H là T đang cần tiền nên nhờ H mang khế ước cầm đồ và căn cước công dân của T đến tiệm cầm đồ Năm C để bán chiếc nhẫn giúp T thì H tưởng thật nên đồng ý. Khoảng 10 giờ 35 phút cùng ngày, H đến tiệm cầm đồ Năm C để bán nhẫn thì gặp bà Lê Thị Mỹ H1. H đưa khế ước cầm đồ và căn cước công dân của T cho H1 và nói với H1 là T đang cần tiền nên nhờ H bán giúp. H1 tưởng thật nên lấy chiếc nhẫn vàng 18K ra cân rồi đồng ý mua với giá 9.116.000 đồng. Huyền trừ số tiền 4.000.000 đồng mà T đã cầm thế và tiền lãi 20.000 đồng rồi đưa cho H số tiền 5.096.000 đồng còn lại. Sau đó, H trở lại công viên H rồi đưa P số tiền 5.096.000 đồng. Pháp cho H 96.000 đồng, còn lại 5.000.000 đồng Pháp giữ dùng để tiêu xài cá nhân. P đi về nhà thì thấy T vẫn đang ngủ nên bỏ căn cước công dân của T vào lại trong ví rồi cất ví lại trong túi quần của T.
Khoảng 17 giờ cùng ngày, bà H1 đem chiếc nhẫn vàng 18K trên đến tiệm V, địa chỉ kiot C đường N thuộc khu phố B, phường Đ, TP . bán cho ông Phan Đăng T1 với giá 9.144.000 đồng. Quá trình điều tra, ông T1 khai không nhớ ngày 30/5/2023 có mua chiếc nhẫn vàng 18K của bà H1 hay không.
Khoảng 03 ngày sau, ông T phát hiện mất khế ước cầm đồ nên đến tiệm C1 thì phát hiện bà H đã bán chiếc nhẫn trên. Ngày 04/6/2023, ông T đến Công an phường Đ trình báo sự việc. Quá trình điều tra, Pháp đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nêu trên.
Vật chứng của vụ án: Chiếc nhẫn vàng 18K có trọng lượng 2,84 chỉ, Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Tại Kết luận định giá tài sản số 223/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự, chiếc nhẫn vàng 18K trọng lượng 2,84 chỉ có giá trị 9.542.400 đồng.
Về dân sự:
Bà Trần Thị N, chủ tiệm cầm đồ Năm C (là người đã nhận cầm thế nhẫn cho ông T) không có yêu cầu gì về dân sự.
Hà Văn P đã hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền 4.000.000 đồng, ông T không yêu cầu gì thêm về dân sự.
Tại Cáo trạng số 100/CT-VKSPT-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Hà Văn P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s, khoản 2 khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Hà Văn P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định tội danh và buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 30/5/2023 tại nhà của Hà Văn P ở khu phố D, phường Đ, TP ., do muốn chiếm đoạt chiếc nhẫn vàng 18K có trọng lượng 2,84 chỉ, có trị giá 9.116.000 đồng mà ông Nguyễn Văn T đang cầm thế cho bà Trần Thị N tại tiệm C1, nên Pháp lợi dụng lúc ông T đang ngủ, lấy khế ước cầm đồ đối với chiếc nhẫn trên và 01 căn cước công dân của ông T đang để trong ví rồi đến gặp bà Nguyễn Thị Kim H. Pháp nói dối nhờ bà H mang khế ước cầm đồ và căn cước công dân của ông T đến tiệm C1 bán chiếc nhẫn giúp ông T vì ông T đang cần tiền. Bà H tưởng thật nên đồng ý. Khoảng 10 giờ 35 phút cùng ngày, bà H đến tiệm cầm đồ Năm C gặp bà Lê Thị Mỹ H1 là nhân viên tiệm cầm đồ đưa khế ước cầm đồ và căn cước công dân của ông T cho bà H1 và nói ông T đang cần tiền nên nhờ bà H bán nhẫn giúp. Bà H1 tưởng thật nên mua chiếc nhẫn vàng trên với giá 9.116.000 đồng. Bà Huyền t số tiền 4.000.000 đồng mà ông T đã cầm thế và tiền lãi 20.000 đồng rồi đưa cho bà H số tiền 5.096.000 đồng còn lại. Bà H đưa P số tiền 5.096.000 đồng. Pháp cho bà H 96.000 đồng, còn lại 5.000.000 đồng Pháp tiêu xài cá nhân hết.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Hà Văn P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định của pháp luật.
[3] Về nhận thức hành vi, tính chất phạm tội: Bị cáo bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của bị hại là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe tốt, có đủ điều kiện lao động để tạo ra vật chất nhưng vì bản chất tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản để phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, do đó bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hà Văn P đã bị kết án về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và tội "Trộm cắp tài sản", chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo trước đây đã bị xét xử về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và tội "Trộm cắp tài sản", sau khi chấp hành án xong không rèn luyện, tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản mà còn tác động xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết về mức áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là hợp lý.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[6] Về dân sự:
Bị hại bà Trần Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T không có yêu cầu gì về dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 174, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tuyên bố bị cáo Hà Văn P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn P 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
- Về án phí:
Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hà Văn P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/7/2024). Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Thảo Nguyên |
Bản án số 156/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 156/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
