Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2024/HS-ST

Ngày 24/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tài Hòa, bà Nguyễn Thị Thiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 24/09/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 157/2024/TLST-HS ngày 28/08/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-HS ngày 12/09/2024 đối với:

  1. Bị cáo: Vương Văn L, sinh năm 1995; Nơi đăng ký HKTT: Thôn B, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vương Văn H(đã chết) và bà Vương Thị P; Có vợ là Vương Thúy S và có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017;

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/06/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh B).

  2. Bị cáo: Trần Ngọc Q, sinh năm 1980; Nơi đăng ký HKTT: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn S1 và bà Vũ Thị T; Có vợ là Nguyễn Thị M và 01 người con sinh năm 2015;

    Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/06/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y (có mặt ở điểm cầu trực tuyến Tòa án nhân dân huyện Yên Phong).

  1. Người bào chữa cho bị cáo L: Ông Nguyễn Việt K, trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt ở điểm cầu trực tuyến Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Bắc Ninh)

  2. Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Đức Đ - Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại điểm cầu trực tuyến Tòa án nhân dân huyện Yên Phong).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 03/06/2024, tại đường T thuộc địa phận thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Đ kiểm tra, bắt quả tang Vương Văn L có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Ngọc Q. Thu giữ của Trần Ngọc Q 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (niêm phong trong bì thư kí hiệu là M). Thu giữ của Vương Văn L tại lòng bàn tay phải 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng (niêm phong trong bì thư kí hiệu là M1). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định số 1375/KL-KTHS ngày 06/06/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1252 gam; Là ma túy Heroine”.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 157/CT-VKSYP ngày 28/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Phong để xét xử bị cáo Vương Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Trần Ngọc Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo L và Q khai nhận: Vào khoảng 17 giờ ngày 03/06/2024 bị cáo đi xe khách từ Hà Nội đến KCN Y, bị cáo gặp và hỏi mua ma túy của 01 người đàn ông không quen biết với mức giá 100.000 đồng. Khoảng 22 giờ cùng ngày, bị cáo có nhờ 01 người quen không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể là C đưa đến đường tỉnh lộ 277 thuộc địa phận thôn B, xã Đ, huyện Y, tại đây bị cáo gặp Trần Ngọc Q hỏi mua 200.000 đồng ma túy. Bị cáo đồng ý bán cho Q. Bị cáo nhận 200.000 đồng từ Q và đưa cho Q 01 gói ma túy heroine thì bị bắt quả tang.

Người bào chữa cho bị cáo L: Hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ, bị cáo là dân tộc Nùng, thuộc hộ nghèo, ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế, đề nghị hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất để sớm trở về gia đình, xã hội, miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vương Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Trần Ngọc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vương Văn L từ 28 đến 30 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/6/2024. Miễn hình phạt bổ sung. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo L.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Q từ 16 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/06/2024. Miễn hình phạt bổ sung.

Lưu trong hồ sơ vụ án đĩa DVD hỏi cung bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì đựng que thử nước tiểu. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định: Hồi 22 giờ 00 phút ngày 03/06/2024, tại đường T thuộc địa phận thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Vương Văn L đã bị bắt quả tang về hành vi bán trái phép 0,1252 gam ma túy Heroine cho Trần Văn Q1 với mức giá 200.000 đồng để kiếm lời. Còn Q1 mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Vương Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Trần Ngọc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là cầu nối của đại dịch HIV. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác như giết người, cướp tài sản, trộm cắp nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hai bị cáo thường xuyên sử dụng ma túy, không có việc làm ổn định. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới giúp các bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về xử lý vật chứng: Mẫu vật còn lại sau giám định là chất cấm lưu hành, phong bì đựng que thử nước tiểu không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.

Số tiền mua bán ma túy 200.000 đồng tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo L là hộ nghèo, ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTV Quốc hội, bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với 02 người có liên quan trong vụ án là người đàn ông bán ma túy cho L và người thanh niên tên C chở L nhưng L không biết tên tuổi, địa chỉ của những người này. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Vương Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Vương Văn L 28 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/06/2024;

  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Q 14 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/06/2024

  3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Quyết định tạm giam bị cáo L, Q mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

    Tịch thu và tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định của Phòng K1 Công an tỉnh B và 01 phong bì đựng que thử nước tiểu.

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng.

    Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo L. Bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND huyện Yên Phong;
  • - Công an huyện Yên Phong;
  • - Trại giam;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 156/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vương Văn L mua bán trái phép chất ma túy, Trần Ngọc Q tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger