|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 156/2024/HS-ST Ngày: 22 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bạc Thị Phương.
2. Ông Nguyễn Duy Lâm.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lợi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị M - Kiểm sát viên.
Ngày 22/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2024/TLST-HS ngày 31/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2024/QĐXXST-HS ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Thị T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; sinh năm 1979 tại huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản Kệt, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: không biết chữ; con ông: Lò Văn P (Đã chết); con bà: Lò Thị X (Đã chết); Chồng, con: Bị cáo chung sống như vợ chồng với Lò Văn P1 (Đã chết) và có hai con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến ngày xét xử, có mặt tại phiên tòa.
2. Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị T1, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý có mặt bào chữa cho bị cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 04/5/2024, Lò Thị T một mình đi bộ từ nhà tại bản K, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên ra ngoài đường bản Kệt, xã Q, huyện T chơi thì gặp một người phụ nữ giới thiệu tên là T2, T không biết rõ tên địa chỉ của T2. Qua trao đổi, bị cáo mua được của T2 một gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh với giá 150.000 đồng. Về đến nhà, T cấu chia gói Heroine vừa mua thành 04 phần, dùng mảnh nilon màu trắng và xanh có sẵn gói lại thành 03 gói nilon màu trắng và 01 gói nilon màu xanh. Sau đó cho 04 gói Heroine vào trong mảnh nilon màu xanh cũ buộc thắt nút giấu dưới túi đựng quần áo ở cuối giường ngủ trong nhà T để bán kiếm lời. Hồi 21 giờ 05 phút cùng ngày khi T đang ở nhà thì bị tổ công tác Công an huyện T bắt quả tang thu giữ dưới túi đựng quần áo ở cuối giường ngủ của T 01 gói nilon màu xanh trong có 03 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng và 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 00 giờ 50 phút ngày 05/5/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xác định: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục và dạng bột nghi Heroine trong gói nilon màu trắng thứ nhất có khối lượng 0,04 gam (ký hiệu M1); Mẫu chất bột màu trắng dạng cục và dạng bột nghi Heroine trong gói nilon màu trắng thứ hai có khối lượng 0,08 gam (ký hiệu M2); Mẫu chất bột màu trắng dạng cục và dạng bột nghi Heroine trong gói nilon màu trắng có khối lượng 0,04 gam (ký hiệu M3); Mẫu chất bột màu trắng dạng cục và dạng bột nghi Heroine trong gói nilon màu xanh có khối lượng 0,11 gam (ký hiệu M4); Tổng khối lượng là 0,27 gam. Gửi toàn bộ mẫu vật đi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số: 774/KL-KTHS ngày 11/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Lò Thị T là chất ma túy, loại Heroine, hoàn lại đối tượng giám định 0,15 gam.
Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố: Do bản thân lười lao động và hám lời, bị cáo đã có hành vi mua Heroine về để bán kiếm lời. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn thật thà khai báo.
Tại bản Cáo trạng số: 111/CT-VKSTG ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Thị T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 02 mảnh nilon màu xanh, 03 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong các mép đều được dán kín bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,15 gam Heroine.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình, nhờ người bào chữa, bào chữa cho bị cáo.
Quan điểm bào chữa của người bào chữa: Nhất trí với bản Cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo về tội danh và tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhất trí với việc đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét thêm các tình tiết về hành vi phạm tội, nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo để áp dụng mức hình phạt phù hợp theo quy định của pháp luật. Bị cáo không bổ sung gì vào lời bào chữa và không có quan điểm tranh luận.
Người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm, không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 21 giờ 05 phút, ngày 04/5/2024, tại bản Kệt, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, bị cáo Lò Thị T bị bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 0,27 gam Heroine nhằm mục đích bán kiếm lời.
Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02); biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL70-71); kết luận giám định (BL 74); các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Với tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và mối nguy hại của nó đối với gia đình và xã hội. Nhà nước và toàn thể nhân dân đang có những chính sách, biện pháp phòng chống ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn và những tội phạm về ma túy thì bị cáo lại tiếp tay cho tội phạm ma túy phát triển, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
[2]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo đã cất giấu trái phép 0,27 gam Heroine nhằm mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.
[3]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Lò Thị T sinh ra và lớn lên tại huyện T, tỉnh Điện Biên. Bị cáo không có tiền án, tiền sự không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
HĐXX xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng nhất thiết phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người phụ nữ không quen biết tự xưng tên là T2 tại bản Kệt, xã Q, huyện T, cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ được, HĐXX không xem xét.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Song xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo chỉ làm nông nghiệp, là hộ cận nghèo nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo, là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, cần bị tịch thu tiêu hủy. Đối với các mảnh nilon để gói ma túy không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 02 mảnh nilon màu xanh, 03 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong các mép đều được dán kín bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,15 gam Heroine.
[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, là hộ cận nghèo thuộc diện được miễn án phí, có đơn xin miễn án phí, HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Về tội danh: Bị cáo Lò Thị T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Thị T: 02 (Hai ) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam ngày 04/5/2024
-
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 02 mảnh nilon màu xanh, 03 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong các mép đều được dán kín bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,15 gam Heroine.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng đã được Công an huyện T bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo hồi 08 giờ 15 phút, ngày 30 tháng 7 năm 2024).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 22/8/2024./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà |
Bản án số 156/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 156/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 21 giờ 05 phút, ngày 04/5/2024, tại bản Kệt, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, bị cáo Lò Thị T bị bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 0,27 gam Heroine nhằm mục đích bán kiếm lời.
