Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2024/HS-ST

Ngày 23-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Trịnh Văn Lực;

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 113/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Đinh Nguyễn Hồng H, sinh năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thường trú: số C, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Tiến D (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970; bị cáo chưa có chồng; bị cáo có 02 con lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2023 đến nay, có mặt.
  2. Nguyễn Trung H2, sinh năm 1986 tại tỉnh Bình Dương. Thường trú: số H, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Gái N, sinh năm 1961; vợ Lý Thị Huyền D1, sinh năm 1987; bị cáo có 02 con lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2023 đến nay, có mặt.
  3. Bạch Công Đ1, sinh năm 1994, tại tỉnh Bình Dương. Thường trú: số G, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch Văn H3, sinh năm 1959 và bà Châu Thị T, sinh năm 1961; vợ Nguyễn Thị Ngọc H4, sinh năm 1993 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2023 đến nay, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Hồng L, sinh năm 1964. Thường trú: ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1960. Địa chỉ: số G, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có mặt.
  3. Bà Châu Thị T, sinh năm 1961. Địa chỉ: số G, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người chứng kiến:

  1. Ông Lê Minh Q, sinh năm 2001, vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Thiện Đ2, sinh năm 1959, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00, ngày 02/10/2023, Đinh Nguyễn Hồng H (tên gọi khác là T1) gọi điện thoại cho Nguyễn Trung H2 hẹn H2 đến khách sạn T2 thuộc khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương để nói chuyện tâm sự thì H2 đồng ý. H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 66M1 - 339.42 đến khách sạn T2 nhưng không còn phòng nên H2 đến khách sạn Lối Về tại đường G, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương để thuê phòng. Tại đây, H2 thuê phòng 105 và nhắn tin số phòng cho H biết. Trong lúc chờ H tại phòng 105, H2 nhận được điện thoại Bạch Công Đ1, Đ1 hỏi H2 đang ở đâu thì H2 nói đang ở khách sạn Lối Về. Sau đó, Đ1 điều khiển xe mô tô hiệu MingXing loại Dream màu nâu, biển số 61H1 - 4940 đến khách sạn Lối Về và gọi hỏi H2 đang ở phòng nào thì H2 cho biết là đang ở phòng 105 đồng thời nói Đằng thuê phòng khác vì phòng H2 thuê là phòng đơn. Lúc này, Đ1 vào thuê phòng 305 nhưng khi nhận chìa khoá phòng thì Đ1 đi đến phòng 105 gặp H2. Tại phòng Đ1 hỏi H2 có ma tuý để sử dụng không thì H2 nói chút T1 (tức là H) mang ma tuý qua, thì Đ1 biết là H sẽ mang ma tuý đến để H2 và Đ1 sử dụng. H2 và Đ1 ngồi chơi khoảng 15 phút thì H đến. Khi đến phòng 105, H mang theo một túi đeo màu nâu và một túi xách màu xanh. H vào phòng ngồi ở trên giường nói chuyện với H2 một lúc thì H nói với H2 “anh có chơi thì lấy ma tuý để chơi cùng với anh Đ1”, H2 hỏi để ở đâu, thì H nói để trong túi xách màu xanh, rồi H lấy ra một bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đã tháo rời đưa cho H2. H2 ngồi lắp ráp lại bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 bình thuỷ tinh, 01 ống hút nhựa, 01 nỏ thuỷ tinh (bên trong nỏ còn ma tuý là chất màu nâu). Sau khi lắp ráp xong thì H2 lấy bật lửa để hơ nóng nỏ thuỷ tinh lên để đốt chất ma tuý bên trong. Sau đó sử dụng ống hút để hút ma tuý đá vào bên trong cơ thể, rồi đưa cho Đ1 để Đ1 sử dụng ma tuý. Đằng hít được một hơi thì H2 cầm bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đưa cho H, H sử dụng được một hơi sau đó lên giường nằm, H2 và Đ1 tiếp tục sử dụng thêm mỗi người khoảng 03 hơi nữa thì ngưng sử dụng. Khoảng 20 phút sau, Đ1 hỏi H còn ma túy thì chia lại cho Đ1 200.000 đồng để Đ1 sử dụng, H đồng ý và nói H2 lấy 01 túi nylon miệng kéo dính chứa ma tuý đá để trong túi xách màu xanh đưa cho Đ1. H2 lấy 01 gói ma tuý theo lời của H rồi đưa cho Đ1. Đ1 đưa cho H2 số tiền 200.000 đồng rồi H2 đưa lại cho H. Sau khi mua được ma túy, Đ1 đi về, khi đi đến cầu thang lầu 01 thì gặp lực lượng Công an phường Đ kiểm tra hành chính, qua kiểm tra do lo sợ nên Đ1 đã lấy 01 túi nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an và khai nhận vừa mua gói ma túy của H tại phòng 105 nên lực lượng Công an đã lập biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú đối với Đ1.

Tại phòng 105, sau khi Đ1 về thì H và H2 ngồi chơi trong phòng. Lúc này có tài khoản zalo tên “Kim N1” nhắn tin cho H hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. H gọi điện thoại cho người bạn tên “Bê” nói B đến phòng 105 khách sạn “Lối Về” lấy ma túy đi giao cho “Kim N1”, rồi H nhờ H2 lấy 01 túi nylon miệng kéo dính chứa ma túy từ trong túi xách màu xanh để khi B đến thì H2 đưa cho B đi giao ma túy. Khoảng 15 giờ 45 cùng ngày, lực lượng Công an phường Đ đến gõ cửa kiểm tra phòng 105, H2 cho rằng người mua ma tuý đến nên đã cầm 01 túi nylon miệng kéo dính chứa ma túy ra mở cửa để giao theo yêu cầu của H trước đó. Lúc này, do thấy lực lượng Công an đến kiểm tra nên H2 đã thả gói ma túy xuống nền nhà thì bị phát hiện bắt quả tang. Sau đó, lực lượng Công an khám xét phòng 105 thì phát hiện trên bàn cuối giường có 01 túi xách màu xanh bên trong có 01 hộp nhựa màu trắng viền xanh, bên trong hộp nhựa có 06 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng; 01 túi đeo màu nâu bên trong có 01 hộp nhựa trắng nhãn màu hồng, bên trong hộp nhựa có 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng; trên bàn đầu giường có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bình thủy tinh, 01 ống hút, 01 nỏ thủy tinh (trong nỏ thuỷ tinh vẫn còn chất màu nâu). H và H2 khai nhận chất tinh thể màu trắng và chất màu nâu là ma túy đá, đều là của H. Lực lượng Công an đã lập biên bản, niêm phong tang vật và đưa H và H2 cùng tang vật về trụ sở Công an làm việc. Sau đó Công an phường Đ chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, H khai nhận, vào rạng sáng ngày 02/10/2023, sau khi liên lạc qua điện thoại thì có một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch đã đến đầu hẻm nhà của H và bán cho H 1.000.000 đồng ma tuý đá được bảo quản trong 10 (mười) túi nylon miệng kéo dính. Sau khi mua được ma tuý thì H lấy 01 gói ma tuý đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và sử dụng một mình nhưng không hết. Số ma tuý còn lại trong nỏ thuỷ tinh và 09 (chín) gói ma tuý còn lại thì H để trong hai túi xách và sau đó đưa đến khách sạn Lối Về. H lấy ma tuý trong nỏ thuỷ tinh ra để H, H2 và Đ1 cùng sử dụng, H bán cho Đ1 01 gói ma tuý với giá 200.000 đồng, H2 giữ 01 gói ma tuý để giao cho khách thì bị bắt quả tang, còn lại 07 gói vẫn để trong túi xách, sau đó lực lượng Công an đã thu giữ toàn bộ số ma tuý này. Điện thoại di động và sim điện thoại mà H sử dụng để liên lạc với người bán ma tuý thì H đã làm mất khi trên đường đi đến khách sạn “Lối Về” nên Cơ quan điều tra không thu giữ được, sim mà H sử dụng là sim không đăng ký chính chủ nên H cũng không nhớ số.

Tại bản Kết luận giám định số 188/MT-PC09 ngày 14/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tất cả mẫu tinh thể màu trắng và chất màu nâu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng M1=0,2030 gam, M2=0,0352 gam, M3-1=0,8972 gam, M3-2=0,5687gam, M4=0,2041 gam, M5=0,3259 gam.

Ngày 11/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết khởi tố bị can, Lệnh tạm giam đối với H và H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; đối với Đ1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

* Về vật chứng thu giữ:

  • 01 hộp nhựa màu trắng bên trong có 01 túi nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, khối lượng M1=0,2030 gam.
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, bên trong nỏ thuỷ tinh chứa tinh thể màu nâu, khối lượng M2= 0,0352 gam.
  • 01 hộp nhựa màu trắng, viền xanh bên trong có 03 túi nilon miệng kéo dính viền màu xanh dương chứa tinh thể màu trắng, khối lượng M3-1= 0,8972gam và 03 túi nilon miệng kéo dính viền màu đỏ chứa tinh thể màu trắng, khối lượng M3-2= 0,5687gam .
  • 01 túi nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, khối lượng M4=0,2041 gam (thu của Bạch Công Đ1).
  • 01 túi nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, khối lượng M5=0,3259 gam (thu của Nguyễn Trung H2).
  • 01 túi đeo màu nâu và 01 túi xách màu xanh.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 66M1 – 339.42, số máy: JC54E3159721, số khung: 5377EZ057252.
  • 01 xe mô tô hiệu MingXing loại Dream màu nâu, biển số 61H1 – 4940, số máy: 1P50FMG310047296, số khung: VFCPCG0A3YF009265.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu xám, số máy MG6G2LL/A, số seri FFMRP3VZG5MR gắn sim số 0899024269; 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi note 12 màu xanh đen, phiên bản MIUI, mẫu 2302RAAEG, gắn sim số 0908250331; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng, gắn sim số 0901727616.
  • Số tiền 200.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 05 bì thư đã niêm phong ghi số 560M1, M2, M3, M4, M5/PC09 bên trong chứa M1=0,1761 gam; M2=0,0235gam; M3-1=0,7465 gam, M3-2=0,5389 gam; M4=0,1908 gam; M5=0,2407 là ma túy, loại Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bình thủy tinh, 01 ống hút, 01 nỏ thủy tinh là công cụ H, H2 dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 hộp nhựa màu trắng, 01 hộp nhựa màu trắng viền xanh, 01 túi đeo màu nâu và 01 túi xách màu xanh là công cụ H cất giấu ma tuý, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy
  • Đối với xe mô tô hiệu Honda Future biển số 66M1 - 339.42, đây là xe do H2 mượn của ba ruột, là ông Nguyễn Văn Đặng . Xe này do bà Nguyễn Hồng L đứng tên chủ sở hữu. Năm 2019, ông Đ đã mua xe này của bà L với giá 22.000.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 02/10/2023, H2 mượn ông Đặng x này để đi công việc. Việc H2 bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì ông Đ không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại xe mô tô biển số 66M1 – 339.42 cho ông Nguyễn Văn Đ theo quy định.
  • Đối với xe mô tô hiệu MingXing loại Dream màu nâu, biển số 61H1 – 4940 là xe do Đ1 mượn của mẹ ruột là bà Châu Thị T. Xe này do bà Châu Thị T đứng tên chủ sở hữu. Ngày 02/10/2023, Đ1 mượn bà T xe này để đi công việc. Việc Đ1 tàng trữ trái phép chất ma tuý thì bà T không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 61H1 - 4940 cho bà Châu Thị T theo quy định.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu xám, số máy MG6G2LL/A, số seri FFMRP3VZG5MR thu giữ của H; 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi note 12 màu xanh đen, phiên bản MIUI, mẫu 2302RAAEG thu giữ của H2; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng thu giữ của Đằng, đây là phương tiện mà các bị cáo đã sử dụng để liên lạc với nhau với mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định.
  • Đối với sim số 0899024269 thu giữ của H, sim số 0908250331 thu giữ của H2, sim số 0901727616 thu giữ của Đ1, đây là phương tiện các bị cáo sử dụng để liên lạc với nhau với mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định.
  • Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của H, là tiền H thu được từ việc “Mua bán trái phép chất ma tuý”, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định.
  • Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đinh Nguyễn Hồng H hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên đang tiếp tục điều tra, xử lý sau.
  • Đối với người có tài khoản Z là “Kim N1” và người có tên thường gọi là B thì H khai đây là những người bạn mà H quen biết trên mạng xã hội, rất ít khi gặp nhau, chủ yếu là liên lạc qua zalo. Hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch của Kim N1 cũng như nhân thân, lai lịch của B nên đang tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 140/CT-VKS-DA ngày 28 tháng 3 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H và bị cáo Nguyễn Trung H2 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Bạch Công Đ1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 15 đến 16 năm tù.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H2 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Trung H2 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 14 đến 15 năm tù.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bạch Công Đằng từ 01 năm 03 tháng từ đến 01 năm 06 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

  • Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 05 (năm) bì thư đã được Phòng K niêm phong có ghi ký hiệu 560/PC09M1, 560/PC09M2, 560/PC09M3, 560/PC09M4, 560/PC09M5, bên trong chứa số ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định (M1=0,1761 gam, M2=0,0235 gam, M3-1=0,7465 gam, M3-2=0,5389 gam, M4=0,1908 gam, M5=0,2407 gam) cùng 01 hộp nhựa màu trắng, 01 hộp nhựa màu trắng viền xanh, 01 nỏ thủy tinh; 01 (một) bình thủy tinh; 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) túi đeo màu nâu; 01 (một) túi xách màu xanh; các sim số: 0899024269, 0908250331, 0901727616.
  • Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu xám, số máy MG6G2LL/A, số seri FFMRP3VZG5MR; 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi note 12 màu xanh đen, phiên bản MIUI, mẫu 2302RAAEG; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng và số tiền 200.000 đồng.

Bị cáo Bạch Công Đằng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và trình bày ý kiến: Bị cáo thống nhất với nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân, thành phố D, tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng các bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H, Nguyễn Trung H2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An đã truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 02/10/2023, tại nhà nghỉ “Lối Về”, tại đường G, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, bị cáo Bạch Công Đ3 đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, khối lượng là 0,2041 gam ma túy (loại Methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo tàng trữ ma túy có khối lượng 0,2041 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Bạch Công Đằng với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 02/10/2023, tại phòng 105 nhà nghỉ “Lối Về”, tại đường G, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H và Nguyễn Trung H2 có hành vi bán ma tuý cho đối tượng tên Z “Kim N1” nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, ngày 02/10/2023, tại phòng 105 nhà nghỉ “Lối Về”, tại đường G, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, H và H2 còn bán cho bị cáo Bạch Công Đằng 200.000 đồng ma túy và tàng trữ 07 túi nylon miệng kéo dính chứa ma tuý loại methamphetamine, tổng khối lượng là 1,6689 gam, nhằm mục đích mua bán. Hành vi của bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H và Nguyễn Trung H2 tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán cho bị cáo Đ3 và cho đối tượng tên Z “Kim N1” đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H và Nguyễn Trung H2 với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Ngoài ra, khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 02/10/2023, tại phòng 105 nhà nghỉ “Lối Về”, tại đường G, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H có hành vi cung cấp ma tuý, công cụ sử dụng trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Trung H2 và Bạch Công Đ3 để H2 và Đ3 đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể; bị cáo Nguyễn Trung H2 có hành vi cung cấp địa điểm, công cụ cho H và Đ3 để H và Đ3 đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể. Hành vi của bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H và bị cáo Nguyễn Trung H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H và Nguyễn Trung H2 với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội mà bị cáo Đ3 thực hiện là nghiêm trọng, hành vi mà bị cáo H, H2 đã thực hiện là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước. Về nhận thức, các bị cáo biết ma túy (Methamphetamine) là loại chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nước độc quyền và thống nhất quản lý. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Đối với bị cáo Đ3 sau khi thực hiện hành vi bị cáo đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đồng phạm khác; có ông nội là ông Phan Văn C là người có công với cách mạng được Nhà nước công nhận là liệt sĩ nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đ3.

[7] Về nhân thân: các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

[7.1] Đối với người có tài khoản Zalo là “Kim N1” đăng ký thuê bao di động 0968.958.293 do Phan Kim N2 đứng tên chủ thuê bao. Qua xác minh đối tượng Phan Kim N2, sinh năm 1998, thường trú: số A, đường N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở: số B, đường L, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Qua xác minh hiện nay Phan Kim N2 không sinh sống tại địa chỉ nêu trên, đi đâu làm gì không rõ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp xác minh, điều tra xử lý sau là phù hợp.

[7.2] Đối với đối tượng tên gọi là “Bê” có tài khoản Zalo “Nghiasox" được bị cáo H nhờ đến phòng 105 nhà nghỉ “Lối Về” để lấy ma túy giao cho đối tượng “Kim Ngọc”. Bị cáo H khai chỉ quen biết “Bê” trên mạng xã hội, rất ít khi gặp nhau, chủ yếu là liên lạc qua zalo, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp xác minh, điều tra xử lý sau là phù hợp.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với: 05 bì thư được Phòng K niêm phong có ghi ký hiệu 560/PC09M1, 560/PC09M2, 560/PC09M3, 560/PC09M4, 560/PC09M5, bên trong chứa số ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định (M1=0,1761 gam, M2=0,0235 gam, M3-1=0,7465 gam, M3-2=0,5389 gam, M4=0,1908 gam, M5=0,2407 gam) cùng 01 hộp nhựa màu trắng, 01 hộp nhựa màu trắng viền xanh, 01 nỏ thủy tinh; 01 (một) bình thủy tinh; 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) túi đeo màu nâu; 01 (một) túi xách màu xanh; các sim số: 0899024269, 0908250331, 0901727616. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu xám, số máy MG6G2LL/A, số seri FFMRP3VZG5MR; 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi note 12 màu xanh đen, phiên bản MIUI, mẫu 2302RAAEG; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng và số tiền 200.000 đồng. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H và bị cáo Nguyễn Trung H2 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Xét đề nghị Viện Kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo Bạch Công Đằng là nặng nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt nhẹ hơn mức đề nghị của đại diện đại diện Viện Kiểm sát.

[10] Án phí sơ thẩm: các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H và bị cáo Nguyễn Trung H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tuyên bố bị cáo Bạch Công Đằng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Về hình phạt:

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/10/2023.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H2 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Trung H2 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/10/2023.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Bạch Công Đằng 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/10/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 05 (năm) bì thư đã được Phòng K niêm phong có ghi ký hiệu 560/PC09M1, 560/PC09M2, 560/PC09M3, 560/PC09M4, 560/PC09M5, bên trong chứa số ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định (M1=0,1761 gam, M2=0,0235 gam, M3-1=0,7465 gam, M3-2=0,5389 gam, M4=0,1908 gam, M5=0,2407 gam) cùng 01 hộp nhựa màu trắng, 01 hộp nhựa màu trắng viền xanh, 01 nỏ thủy tinh; 01 (một) bình thủy tinh; 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) túi đeo màu nâu; 01 (một) túi xách màu xanh; các sim số: 0899024269, 0908250331, 0901727616.
  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu xám, số máy MG6G2LL/A, số seri FFMRP3VZG5MR; 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi note 12 màu xanh đen, phiên bản MIUI, mẫu 2302RAAEG; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng và số tiền 200.000 đồng (đã chuyển vào tài khoản số 39490104590400000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ngày 29/3/2023).
  • (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/3/2024, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Đinh Nguyễn Hồng H, Nguyễn Trung H2, Bạch Công Đ3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An;
  • - Công an thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (mua bán, tổ chức sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 156/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán, Tổ chức sử dụng, Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Nguyễn Hồng H và đồng phạm phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger