|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 156/2025/HS-ST Ngày: 23/5/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Quản Văn Tiến |
| Hội thẩm nhân dân: | Ông Lý Anh Tuấn |
| Bà Trần Thị Thanh Vân | |
| Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Diệp Anh- Cán bộ tòa án |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu Hiền- Kiểm sát viên |
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 112/2025/HSST ngày 16 tháng 4 năm 2025; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2025/QĐXX-HS ngày 12/5/2025, đối với bị cáo:
-
Mai Ngọc N, giới tính: Nam, sinh năm 1990; Nơi thường trú: C Đê L, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nơi ở trước khi bị bắt: Số H ngõ F Đ, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: M và bà: Trần Thị Ngọc L có vợ là Nguyễn Hồng H và có 02 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018); Tiền án: Ngày 19/07/2022, Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, TP . xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (Ra trại ngày 18/9/2023); Nhân thân: Ngày 15/01/2007, Công an quận Đ, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Danh chỉ bản số 13 ngày 02/01/2025 do Công an quận Đ lập; Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 24/12/2024; Hiện đang bị tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Hồng H - sinh năm 1994; Giới tính: Nữ; Nơi thường trú: Tổ B, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Số H, ngách B, ngõ F Đ, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Duy P và bà: Nguyễn Như Ý; Có chồng Mai Ngọc N (là bị cáo trong cùng vụ án) và có 02 con (con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2013); Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số 12 ngày 02/01/2025 do Công an quận Đ lập; Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 24/12/2024; Hiện đang bị tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hữu D1, sinh năm 1998; Trú tại: khu phố Đ, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Các bị cáo Mai Ngọc N và Nguyễn Hồng H bị Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do có nhu cầu mua ma túy để bán kiếm lời, ngày 16/12/2024, Mai Ngọc N vào nhóm "A Tèo Bắc Nam" liên hệ tài khoản Telegram "Anh L1" đặt mua 7.000.000 đồng ma túy Cần sa. N thanh toán tiền mặt cho người giao hàng tại khu vực đầu ngách số 37/419 phố L, phường V, quận H, Hà Nội. Sau khi nhận được ma túy, N cất giấu trong nhà tại số H ngách B ngõ F phố Đ, phường V, quận H, Hà Nội mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 23/12/2024, tài khoản T "Hải Moon" liên hệ với N hỏi mua 800.000 đồng ma túy Cần sa giao đến địa chỉ số E ngõ C phố P, phường P, quận Đ, Hà Nội, người nhận tên L1, số điện thoại: 0913.006.xxx. Sau đó, khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, tài khoản Telegram "Moemoe_Chann" liên hệ với N hỏi mua 600.000 đồng tiền ma túy Cần sa và hẹn giao ma túy đến địa chỉ số G phố N, phường N, quận B, Hà Nội, người nhận tên T1, số điện thoại: 0904.553.xxx. N đồng ý và cân ma túy Cần sa để vào 03 túi nilong có kích thước (5x8)cm rồi ngụy trang bằng cách: giấu 01 túi ma túy trong chiếc áo phông màu trắng rồi bọc ngoài bằng 01 túi nilon màu đỏ có dán phiếu gửi hàng bên ngoài và giấu 02 túi ma túy trong chiếc quần Kaki màu đen rồi bọc ngoài bằng 01 túi nilon màu đỏ có dán phiếu gửi hàng bên ngoài rồi đi làm. Đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, khi thấy Nguyễn Hồng H – vợ N về nhà, N gọi H qua camera và bảo H viết thông tin 02 khách mua ma túy trên phiếu gửi hàng rồi N đặt 02 đơn vận chuyển qua ứng dựng Be. Khi anh Nguyễn Hữu D1 (Sinh năm 1998, trú tại khu phố Đ, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh – là người vận chuyển trên ứng dụng Be) nhận 02 đơn hàng thì N bảo H mang 02 đơn hàng chứa ma túy Cần sa ra khu vực đầu ngách 37/419 Lĩnh Nam giao cho anh D1. Sau khi nhận 02 đơn hàng từ H, anh D1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát: 99F1-60191 đi giao hàng theo đơn. Đến khoảng 19 giờ 15 phút ngày 23/12/2024, anh D1 đi đến trước số E ngõ C P thì bị tổ Công tác Công an phường P kiểm tra hành chính, phát hiện và thu giữ vật chứng.
Cơ quan Công an đã tiến hành đưa Nguyễn Hữu D1 đi xác định vị trí nhận đơn hàng tại khu vực đầu ngách 37/419 L. Tại đây, D1 nhận ra Nguyễn Hồng H là người giao 02 đơn hàng cho D1.
Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Hồng H và Mai Ngọc N xin đầu thú về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. N đã tự lấy ma túy cất giấu tại nhà và giao nộp cho Cơ quan Công an 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn bên trong có 01 túi nilon kích thước khoảng (5x8)cm đựng thảo mộc khô.
Tại bản Kết luận giám định số 38/KL-KTHS ngày 02/01/2025 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:
- - Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilon (ký hiệu M1) đều là Cần sa, tổng khối lượng 9,775gam;
- - Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilon (ký hiệu M2) là Cần sa, khối lượng 3,045 gam.
Tại bản Kết luận giám định số 39/KL-KTHS ngày 02/01/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
“Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong (để trong 01 vỏ bao thuốc lá S) là Cần sa, khối lượng: 1,248 gam.”
Quá trình điều tra, N khai nhận đã mua ma túy Cần sa về bán từ khoảng đầu tháng 12/2024, N được hưởng lợi khoảng 3.000.000 đồng, H biết nhưng không tham gia vào việc mua bán ma túy với N. Ngày 23/12/2024 là lần đầu tiên N nhờ H viết thông tin người mua ma túy để đi giao ma túy cho 02 khách theo yêu cầu của N. Về việc bán ma túy cho 02 đối tượng vào ngày 23/12/2024, N khai 02 đối tượng này đã chuyển tiền ảo qua ứng dụng ONUS cho N.
Đối với Nguyễn Hữu D1, tại cơ quan điều tra, D1 khai chỉ nhận đơn hàng trên ứng dụng Be để đi giao, D1 không biết trong đơn hàng đi giao có ma túy Cần sa. Dó đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Đối với người bán ma túy cho N, N khai không biết tên tuổi, địa chỉ, không có số điện thoại của người bán và người giao hàng. Qua xác minh tài khoản T "Anh L1" nhóm "A Tèo Bắc Nam" tại Cục P1 và Thông tin điện tử - Bộ V, T3 thao và Du lịch không xác định được thông tin tài khoản. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ xử lý.
Đối với người mua ma tuý của N tại địa chỉ số G phố N, N khai: Không biết người mua là ai, không biết tên tuổi, địa chỉ của người này. N chỉ biết người này tên T1 sử dụng tài khoản T "Moemoe_Chann" và số điện thoại 0904.553.xxx.
Qua xác minh tài khoản T "Moemoe C" tại Cục P1 và Thông tin điện tử - Bộ V, không xác định được thông tin tài khoản.
Qua xác minh số điện thoại 0904.553.xxx có chủ đăng ký là Trần Văn Q (sinh năm: 1995, nơi thường trú: Thôn L, xã V, huyện Q, Quảng Bình).
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn Q khai không đăng ký sử dụng số điện thoại 0904.553.xxx, không quen biết ai sử dụng số điện thoại trên, anh Q không quen biết Mai Ngọc N, Nguyễn Hồng H. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ xử lý.
Đối với người mua ma tuý tại địa chỉ số E ngõ C phố P, N khai không biết người này là ai, không biết tên tuổi, địa chỉ của người này. N chỉ biết người này tên L1 sử dụng tải khoản Telegram "Hải Moon" và số điện thoại 0913.006.xxx.
Qua xác minh tài khoản T "Hải Moon" tại Cục P1 và Thông tin điện tử - Bộ V không xác định được thông tin tài khoản.
Qua xác minh số điện thoại 0913.006.xxx có chủ đăng ký là chị Trần Thị L2 (sinh năm: 1976, nơi thường trú: Thôn L, xã Hội Thịnh, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc).
Tại Cơ quan điều tra, chị L2 khai không đăng ký sử dụng số điện thoại 0913.006.xxx, không quen biết ai sử dụng số điện thoại trên, chị L2 không quen biết Mai Ngọc N, Nguyễn Hồng H. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ xử lý.
Cơ quan điều tra tiến hành gửi công văn đến Cục P1 xác minh thông tin ứng dụng ONUS và thông tin đăng ký, thông tin cá nhân, số điện thoại của người sử dụng tài khoản 0963.198.300. Kết quả: Đối với ứng dụng UNUS, Cục P1, truyền hình và thông tin điện tử không thẩm định, cấp bất cứ giấy phép hoạt động nào cho các phần mềm, ứng dụng liên quan đến ứng dụng ONUS. Do vậy, Cục P1, truyền hình và thông tin điện tử không có các thông tin liên quan đến ứng dụng này.
Vật chứng vụ án
Cơ quan điều tra đã thu giữ những đồ vật, tài sản gồm:
- - Thu giữ của Nguyễn Hữu D1: 01 túi nilong màu đỏ có dính nhãn “PHIẾU GIAO HÀNG, mã vận đơn: Áo phông, khách hàng: T1 (số điện thoại 0904.553.xxx, địa chỉ: G N, phường N, quận B) tiền hàng: đã thanh toán, phí ship: “theo app” bên trong có: 01 áo phông màu trắng bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước (8x5)cm bên trong chứa thảo mộc khô (ký hiệu M2); 01 túi nilong có dính nhãn “PHIẾU GIAO HÀNG”, mã vận đơn: Quần Kaki, khách hàng: L1 (số điện thoại: 0913.006.xxx, địa chỉ: E ngõ C P, phường P, quận Đ, Hà Nội) tiền hàng: đã thanh toán, phí ship: theo app” bên trong có 01 quần kaki màu đen bên trong có 02 túi nilon kích thước mỗi túi (8x5)cm chứa thảo mộc khô (ký hiệu M1);
- - Thu giữ của Nguyễn Hồng H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11s màu xanh dương.
- - Thu giữ của Mai Ngọc N: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn biệu “Saigon Silver” kích thước khoảng (10x6)cm bên trong có 01 túi nilong kích thước khoảng (8x5)cm chứa thảo mộc khô và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10s màu xanh.
Tại Cáo trạng số 118 ngày 14/4/2025 Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã truy tố Mai Ngọc N và Nguyễn Hồng H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Mai Ngọc N và Nguyễn Hồng H về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Mai Ngọc N từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù;
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng H từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù;
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Trả bị cáo H chiếc điện thoại tạm giữ của H; Tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc điện thoại của N; Truy thu của N 3.000.000 đồng tiền bán ma túy trước đó và 1.400.000 đồng tiền bán ma túy ngày 23/12/2024.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận.
Các bị cáo đều đề nghị được giảm nhẹ mức hình phạt.
Căn cứ vào nội dung vụ án, các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự và không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khởi tố, truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được coi là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản khám xét, kết luận giám định và tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ cơ sở kết luận: Do có nhu cầu bán ma túy kiếm lời nên Mai Ngọc N đã lên mạng xã hội Telegram mua được 7.000.000 đồng tiền ma túy Cần sa. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 23/12/2024, N bán 02 gói ma túy Cần sa với giá 800.000 đồng cho 01 đối tượng tên L1, số điện thoại 0913.006.xxx, sử dụng tài khoản Telegram "Hải Moon", địa chỉ tại số E ngõ C phố P, phường P, quận Đ, Hà Nội có khối lượng 9,755 gam. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, N tiếp tục bán 01 gói ma túy Cần sa với giá 600.000 đồng cho đối tượng tên T1, sử dụng tài khoản Telegram mang tên "Moemoe_ Chann", sử dụng số điện thoại 0904.553.xxx có khối lượng 3,045 gam. N ngụy trang bằng cách đóng các túi ma túy kèm các quần áo cũ rồi cho vào túi bóng. Sau đó, N nhờ Nguyễn Hồng H ghi thông tin người mua ma túy lên 02 gói hàng N đã đóng sẵn rồi mang giao cho người vận chuyển là anh Nguyễn Hữu D1 do N đặt trên ứng dụng giao hàng Be. Trên đường anh D1 đi giao hàng thì bị bắt cùng vật chứng. Tổng khối lượng ma túy của N bị thu giữ là 14,047 gam loại Cần sa.
Vì vậy, Mai Ngọc N và Nguyễn Hồng H đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết tăng nặng Phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp luật.
Xét tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo thì thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự trị an xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật khác. Đối với bị cáo N là người có vai trò chính, có một tiền án chưa được xóa, lần phạm tội này của N thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng mức hình nghiêm khắc hơn đồng phạm; Đối với bị cáo H (là vợ của N) đóng vai trò giúp sức, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội nhưng cũng cần áp dụng mức hình phạt phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có hiệu quả và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, xét các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, ngoài ra bị cáo H đã đầu thú. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Mai Ngọc N; Áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Hồng H để giảm một phần mức hình phạt cho các bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đối với đối tượng mua, bán ma túy với các bị cáo, Cơ quan điều tra không làm rõ được và các anh Nguyễn Hữu D1, Trần Anh Q1, chị Trần Thị L2 Cơ quan điều tra xác định không liên quan đến tội phạm, không khởi tố, Viện kiểm sát không truy tố nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11s màu xanh dương tạm giữ của Nguyễn Hồng H không liên quan đến tôi phạm cần trả lại bị cáo H;
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10s màu xanh của Mai Ngọc N, bị cáo sử dụng vào việc thực hiện tội phạm cần tịch thu sung quỹ Nhà nước;
- - Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cân tịch thu tiêu hủy;
- - Đối với số tiền bị cáo N bán ma túy trước đó là 3.000.000 đồng và số tiền bán ma túy ngày 23/12/2024 là 1.400.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo phạm tội mà có là 4.400.000 đồng cần truy thu để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Mai Ngọc N và Nguyễn Hồng H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- - Áp dụng: Điều 38, Điểm b khoản 2 Điều 251, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt Mai Ngọc N 08 năm 06 tháng (tám năm sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2024.
- - Áp dụng: Điều 38, Điểm b khoản 2 Điều 251, Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt Nguyễn Hồng H 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2024.
- - Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).
Số vật chứng có tình trạng như biên bản giao nhân vật chứng số 202 ngày 18/4/2025giữa CCơ quan cảnh sát điều tra- Công an Thành phố H với Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa phản ánh được xử lý như sau:
- + Tịch thu tiêu hủy 02 bao niêm phong trên các mép dán có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị T2, Nguyễn Hữu D1, người chứng kiến Phùng Văn M, cán bộ niêm phong Nguyễn Đình T3 cùng hình dấu của Công an phường P.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong trên các mép dán có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị T2, Mai Ngọc N, người chứng kiến Dương Thị T4, cán bộ niêm phong Trần Anh Vũ, hình dấu của Công an phường P.
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10s màu xanh của Mai Ngọc N;
- + Trả bị cáo Nguyễn Hồng H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11s màu xanh dương;
- + Buộc Mai Ngọc N phải nộp 4.400.000 đồng tiền truy thu do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quản Văn Tiến |
Bản án số 156/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 156/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
