TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 156/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-12-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Nhi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Công Trung
- Bà Võ Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ka Phu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 362/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1989. (có mặt)
Địa chỉ: số H, ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre. - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1992. (có mặt)
Địa chỉ: số E, ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 9 năm 2024, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng T trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị Kim T1 kết hôn năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, từ đó vợ chồng sống ly thân đến nay. Anh nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung với nhau, vì vậy anh yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim T1.
Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Phước T2, sinh ngày 20/8/2015. Cháu T2 đang sống chung với mẹ nhưng nhà hai bên gần nhau nên qua lại thường xuyên. Khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T2 và không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Sau khi cưới vợ chồng có bán 01 cây vàng 24k (vàng cưới) để nâng nền, cất quán (tiệm) tạp hóa trên đất của cha mẹ anh, chi phí khoảng 40 triệu đồng. Cách nay một năm chị T1 dỡ quán cũ nhưng giữ lại móng và tường, sau đó nâng nền lên thêm và xây tường lên cao hơn, lợp lại tôn cũ, nền lát gạch, chi phí phát sinh thêm khoảng 30 đến 40 triệu đồng. Phần chi phí xây cất sau này do chị T1 tự bỏ ra, anh không có phụ tiền vào. Theo anh ước tính quán T3 trị giá khoảng 100 triệu đồng trở lại, do công sức đóng góp của chị T1 nhiều hơn nên phần anh 25%, phần chị T1 75%. Tuy nhiên, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung trong cùng vụ án này.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình tố tụng bị đơn chị Nguyễn Thị Kim T1 trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh T kết hôn năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì mâu thuẫn về tiền bạc, anh T đi làm về không đưa tiền, không phụ tiền nuôi con, từ đó vợ chồng sống ly thân đến nay. Chị nhận thấy hôn nhân của chị và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau, vì vậy chị đồng ý ly hôn với anh T.
Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Phước T2, sinh ngày 20/8/2015. Cháu T2 đang sống chung với chị nhưng cháu T2 có ý kiến muốn được sống cùng cha, vì vậy chị đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có.
Về tài sản riêng: Sau khi cưới vợ chồng có tài sản chung là 10 chỉ vàng 24k (vàng cưới), chị bán 09 chỉ vàng 24k (còn 01 đôi bông tai anh T giữ) và bán vàng mẹ ruột cho để bồi lấp đất và cất quán tạp hóa trên đất của mẹ chồng để buôn bán. Cách nay khoảng một năm, quán xuống cấp và nhà nước làm lộ nên nền bị thấp, vì vậy chị dỡ quán nhưng giữ lại móng và tường, sau đó nâng nền, xây tiếp trên tường cũ lên cao, lợp tôn; chi phí bồi lấp đất, vật tư xây dựng và công thợ tổng cộng 150 triệu đồng. Tiền xây cất quán là chị tự bỏ ra, anh T không có phụ vào nên quán tạp hóa là tài sản riêng của chị, khi ly hôn chị yêu cầu anh T trả lại cho chị 150 triệu đồng, chị để quán cho anh T sử dụng.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn chị Nguyễn Thị Kim T1 trình bày: Về hôn nhân: chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau nhưng chị không đồng ý ly hôn; khi nào anh T chia tài sản cho chị thì chị mới đồng ý ly hôn. Về con chung: trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì chị đồng ý để cháu T2 cho anh T nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản riêng: quán T4 trên đất của mẹ chồng là do chị tự bỏ tiền ra xây cất, anh T không có phụ tiền, đây là tài sản riêng của chị, chị yêu cầu anh T giao trả lại giá trị quán 150 triệu đồng cho chị, chị để quán lại cho anh T sử dụng. Nếu anh T không đồng ý trả lại giá trị quán tạp hóa 150 triệu đồng cho chị thì chị yêu cầu chia đôi giá trị căn nhà cất trên đất do mẹ chồng đứng tên tọa lạc tại xã P huyện B, nhà trị giá khoảng 1.300.000.000 đồng do anh T bỏ tiền ra cất. Về nợ chung: không có.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Hoàng T đối với chị Nguyễn Thị Kim T1. Về con chung giao cháu T2 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận anh T tự nguyện không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung không tranh chấp nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hôn nhân: anh Nguyễn Hoàng T và chị Nguyễn Thị Kim T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 03 tháng 3 năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị T1 là hợp pháp.
Nhận thấy, anh T và chị T1 xảy ra bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn về tiền bạc nhưng vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Anh T và chị T1 đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hai bên không còn tình cảm, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng. Chị T1 không đồng ý ly hôn không phải vì còn tình cảm, muốn hàn gắn với anh T mà do chưa đạt được thỏa thuận về tài sản. Qua đó, thấy rằng mâu thuẫn giữa anh T và chị T1 đã trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống cùng nhau, vì vậy anh T yêu cầu ly hôn với chị T1 là có căn cứ, phù hợp các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về con chung: Nguyễn Phước T2, sinh ngày 20/8/2015. Tại biên bản lấy ý kiến ngày 05/11/2024 cháu T2 có nguyện vọng được sống cùng cha, sau khi cha, mẹ ly hôn; chị T1 đồng ý để cháu T2 cho anh T nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của anh T và chị T1, giao cháu T2 cho anh T nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
[3] Về tài sản chung: anh T không yêu cầu tòa án giải quyết. Trong quá trình tố tụng chị T1 yêu cầu anh T trả lại tài sản riêng là quán tạp hóa xây cất trên đất mẹ chồng trị giá 150 triệu đồng và để quán lại cho anh T sử dụng nhưng anh T không đồng ý. Tại phiên tòa, chị T1 cho rằng nếu anh T không đồng ý trả lại tài sản riêng là giá trị quán tạp hóa 150 triệu đồng thì yêu cầu chia đôi căn nhà cất trên đất của mẹ chồng. Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã ra Thông báo số 115/TB-TA ngày 05/11/2024 yêu cầu chị T1 nộp đơn yêu cầu đòi lại tài sản và nộp tiền tạm ứng án phí nhưng hết thời hạn chị T1 không có đơn yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết cầu cầu đòi lại tài sản và chia tài sản chung của chị T1 trong cùng vụ án này, chị T1 có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
[4] Về nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) anh Nguyễn Hoàng T phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì caùc leõ treân,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Hoàng T. Anh Nguyễn Hoàng T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim T1.
- Về con chung: anh Nguyễn Hoàng T có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Phước T2, sinh ngày 20/8/2015. Ghi nhận anh T không yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, tài sản riêng: không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) anh Nguyễn Hoàng T phải nộp và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002492 ngày 18/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Trường hợp baûn aùn, quyết ñịnh ñược thi haønh theo quy ñịnh tại Điều 2 Luật Thi haønh aùn daân sự thì người ñược thi haønh aùn daân sôi, người phải thi haønh aùn daân söï coù quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tròn, kể từ ngày ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Nhi |
Bản án số 156/2024/HNGĐ-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 156/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
