Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2024/HS-ST

Ngày: 19 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Công Gia – Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ huyện Tân Phú, Nguyên Phó Bí thư Huyện Đoàn Tân Phú.
  2. Bà Trần Thị Yến Nhi – Chuyên viên Văn phòng Hội đồng nhân dân Ủy ban nhân dân huyện Tân Phú.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng– Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 163/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Trịnh Thị Trúc L – sinh ngày: 16/3/2007, tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ A, ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N – 1974 và bà Trịnh Thị N1 – 1970; Chồng, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 15/9/2024 đến ngày 21/9/2024. Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2024 đến ngày 20/11/2024; Hiện đang tại ngoại. (có mặt)

  • - Đại diện hợp pháp của bị cáo:
    • + Ông Nguyễn Văn N – sinh năm: 1974. (có mặt)
    • + Bà Trịnh Thị N1 – sinh năm: 1970. (có mặt)
    • Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • - Bị hại: Chị Lê Thị Thu H (V) – 2004. (có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • - Người làm chứng:
    • + Chị Nguyễn Thị Thanh T – 1998. (có mặt)
    • Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
    • + Chị Ngô Thị Quỳnh A – 2006. (vắng mặt)
    • Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
    • + Bà Nguyễn Thị K – 1952. (vắng mặt)
    • Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • - Người bào chữa: Bà Bùi Thị H1 – Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Thị Trúc L là nhân viên quán cà phê “Bơ Võng” thuộc ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai do chị Nguyễn Thị Thanh T làm chủ quán.

Buổi tối ngày 14/9/2024, do L không có xe để đi lại và bản thân thích chiếc xe mô tô hiệu Honda loại Vario màu đen biển số 60B3-991.83 của Lê Thị Thu H (là em gái của chị T) nên L đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định trên, khoảng 05 giờ ngày 15/9/2024, lợi dụng lúc chị T đang ngủ, L lén tắt camera rồi dắt xe mô tô biển số 60B3-991.83 ra khỏi quán, nổ máy chạy vào nhà chị Ngô Thị Quỳnh A (bạn L), ngụ ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô biển số 60B3-991.83 chở chị Quỳnh A xuống thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhằm mục đích bỏ trốn. Trên đường đi đến thị trấn Đ, huyện Đ thì L bị chị T và chị H dùng xe mô tô đuổi theo phát hiện, ngăn chặn và trình báo cơ quan công an.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda loại Vario màu đen biển số 60B3-991.83 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen của Trịnh Thị Trúc L.

Trị giá tài sản thiệt hại: Tại Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HDĐGTS ngày 18/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda loại Vario màu đen biển số 60B3-991.83, đã qua sử dụng có giá trị 43.500.000đ.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho chị Lê Thị Thu H một xe mô tô hiệu Honda loại Vario màu đen biển số 60B3 991.83 và trao trả cho Trịnh Thị Trúc L một điện thoại di động hiệu Redmi màu đen.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trịnh Thị Trúc L đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.

Bản cáo trạng số 155/CT-VKSTP-ĐN ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trịnh Thị Trúc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự và đề xuất mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thị Thu H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chị Ngô Thị Quỳnh A: Do không có sự bàn bạc và không biết xe mô tô biển số 60B3-991.83 là tài sản do Trịnh Thị Trúc L trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.

Ý kiến bào chữa của bà Bùi Thị H1: Thống nhất về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đề nghị áp dụng cho bị cáo Trịnh Thị Trúc L. Xét bị cáo là người dưới 18 tuổi, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo mức đầu khung hình phạt theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo có lời nói sau cùng như sau: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái và ăn năn hối cải. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Thị Trúc L đã thành khẩn khai nhận tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 05 giờ ngày 15/9/2024, tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Trịnh Thị Trúc L có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda loại Vario màu đen 60B3-991.83 đã qua sử dụng, có giá trị 43.500.000đ của chị Lê Thị Thu H.

Hành vi do bị cáo Trịnh Thị Trúc L đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm hại quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó bị cáo Trịnh Thị Trúc L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.

Tại thời điểm thực hiện tội phạm, bị cáo là người dưới 18 tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 90 và Điều 91 Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

[7]. Về hình phạt:

[7.1]. Về hình phạt chính: Xét tính chất và mức độ tham gia phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như việc bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Ngoài ra, xem xét bị cáo là người dưới 18 tuổi, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ. Căn cứ vào Điều 65, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng chế định án treo, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú giám sát, giáo dục.

[7.2]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Điều 91 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thị Thu H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Honda loại Vario màu đen biển số 60B3-991.83 là tài sản hợp pháp của chị Lê Thị Thu H, 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen là tài sản hợp pháp của bị cáo L, không liên quan đến tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả các vật chứng trên cho các chủ sở hữu là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo Trịnh Thị Trúc L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[11]. Xét quan điểm bào chữa của bà Bùi Thị H1 phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

[12]. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự;
  • - Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • - Điều 2 và Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Thị Trúc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Thị Trúc L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trịnh Thị Trúc L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự, Thông tư số 64/2019/TT-BCA ngày 28/11/2019 của Bộ C.

Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu đang trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án Hình sự từ 02 lần trở lên.

Về án phí: Buộc bị cáo Trịnh Thị Trúc L phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, người bào chữa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại, người bào chữa;
  • - Đại diện hợp pháp của bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - CQCSĐT Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án – VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 156/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger