Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2024/HSST

Ngày: 28/10/2024

Mỹ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi; ông Nguyễn Hữu Trọng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 157/2024/TLST-HS ngày 03/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXXST-HS ngày 11/10/2024 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1982; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn C, con bà: Nguyễn Thị L; Vợ: Nguyễn Thị N và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011; D chỉ bản số 365 lập ngày 05/6/2024 tại Công an huyện C; Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại tại địa phương. Có mặt

* Bị hại: Bà Nguyễn Thị Ư, sinh năm 1954 (đã chết). Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội.

* Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Bà Phùng Thị M – sinh năm 1974; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Gồm những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị Ư: Cụ Phùng Thị N1, sinh năm 1929 (mẹ đẻ); các con: Chị Phùng Thị M – sinh năm 1974; chị Phùng Thị T1 – sinh năm 1978; anh Phùng Minh T2 – sinh năm 1981; chị Phùng Thị T3 – sinh năm 1987.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phùng Thị M. Có mặt.

  2. Anh Vũ Văn P – sinh năm 1986; Nơi ĐKHKTT: 601- CT3C khu đô thị M, TDP H, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện ủy quyền của anh P: Anh Bùi Duy H – sinh năm 1998; Nơi ĐKHKTT: thôn H, xã K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn T có giấy phép lái xe hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 09/12/2022 (có giá trị đến ngày 09/12/2027). Ngày 01/10/2023, T và anh Vũ Văn P ký hợp đồng khoán việc, giao khoán với nhiệm vụ T lái xe giao hàng.

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 26/12/2023, Trần Văn T điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Thaco foton BKS 36C-176.84 của anh Vũ Văn P đi từ xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc di chuyển theo QL21 rẽ vào đường H đến xã H để chở hàng (tôn và trần nhựa). Ngồi bên ghế phụ có phụ xe là anh Cao Văn T4, SN 1989, trú tại thôn P B, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Khoảng 09 giờ 00 phút, T điều khiển xe ô tô BKS 36C-176.84 đi trên đường H hướng X đi Miếu M, đến đoạn Km 430+900 thuộc địa phận thôn V, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội. Đoạn đường thẳng, không bị khuất tầm nhìn, mật độ xe bình thường. T quan sát thấy phía trước cách khoảng 30-50m bên phải lề đường có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS BKS 30Y7-0482 do bà Nguyễn Thị Ư điều khiển đi phía trước cùng chiều với xe của T. Lúc này T vẫn điều khiển xe đi, khi đến cách xe mô tô khoảng 5m thì thấy xe mô tô chuyển hướng rẽ sang bên trái đường (từ bên phải sang bên trái theo hướng di chuyển của xe ô tô), không có đèn tín hiệu xin đường. Do khoảng cách gần và bất ngờ nên T đánh lái sang trái để tránh đồng thời đạp phanh xe nhưng phần đầu xe ô tô ở khu vực giữa ba đờ sốc trước xe ô tô đâm vào phía sườn bên trái của xe mô tô làm xe mô tô bị đổ sang bên phải vào gầm gần bánh sau bên trái của xe ô tô và bị kéo rê đi khoảng hơn 1m thì mới dừng lại. Bà Ư điều khiển xe mô tô bị ngã bất tỉnh văng ra phía trước cách đầu xe ô tô khoảng hơn 1m. T cùng với anh T4 xuống xe đưa bà Ư đến phòng khám bệnh gần đó (cách 50m) cấp cứu. Thấy bà Nguyễn Thị Ư bị thương tích nặng, T gọi xe taxi đưa bà Ư đi cấp cứu tại Bệnh viện Q. Sau đó T đến Công an huyện C trình báo sự việc.

Hậu quả:

  • Bà Nguyễn Thị Ư bị đa chấn thương vùng đầu, gãy xương sườn bên trái được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Q, nhưng do thương tích nặng nên đến 09h00 ngày 27/12/2023 bà Ư đã tử vong tại nhà riêng.
  • Hai phương tiện bị hư hỏng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi như sau:

Hiện trường vụ tai nạn là đường H đoạn Km 430 + 900 thuộc địa phận thôn V, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội. Đường được rải nhựa phẳng, đoạn đường thẳng không có chướng ngại vật, mặt đường rộng 10,50m; giữa đường có vạch sơn đứt quãng màu vàng để chia 01 chiều đường xe chạy, mặt đường bên phải hướng Miếu M - Xuân Mai rộng 5,0m; sát mặt đường bên phải hướng X đi Miếu M là miệng cống thoát nước có nắp đậy bằng bê tông.

Ghi nhận việc đánh số thứ tự: (1) Xe ô tô BKS 36C-176.84; (2) Xe mô tô BKS 30Y7-0482; (3) Vết phanh; (4) Vùng vết cày.

Điểm mốc được xác định là cọc tiêu, ký hiệu H9/430 được đặt trong lề đường bên phải hướng X - Miếu M; Mép đường chuẩn được xác định là mép đường bên phải hướng X - Miếu M.

Từ điểm mốc đo vuông góc về phía Miếu Môn 12,90m là vị trí tâm đầu trục bánh sau bên phải xe (1). Xe (1) đỗ tự nhiên trên mặt đường, đầu xe hướng Miếu M, đuôi xe hướng X. Tâm đầu trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn 4,7m; tâm đầu trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn 3,7m.

Từ tâm đầu trục bánh trước bên phải xe (1) đo vuông góc về phía Miếu Môn 0,2m là vị trí trục bánh sau xe (2). Xe (2) nằm đổ nghiêng sang bên phải xe, đầu xe hướng mép đường bên trái hướng X - Miếu M, đuôi xe hướng phía tim đường, trục bánh trước cách mép đường chuẩn 6,9m; trục bánh sau cách mép đường chuẩn 5,8m.

Từ trục bánh trước xe (2) đo vuông góc về phía Xuân Mai 2,6m là vị trí đầu vết (3) liền có hướng X đi Miếu M dài 1,8m; rộng 0,15m đầu vết cách mép đường chuẩn 6,2m, cuối vết là vị trí bánh trước, bên trái xe (1) tỳ xuống mặt đường.

Từ đầu vết (3) đo vuông góc về phía Xuân Mai 0,7m là vị trí đầu vết (4). Vết (4) liền dài 2,6m, rộng 0,02m có hướng X - Miếu M; đầu vết cách mép đường chuẩn 5,9m; cuối vết là vị trí đầu bàn để chân trước bên phải xe (2) tỳ xuống mặt đường.

* Xác định biển báo giao thông: Công văn số 2048 ngày 11/4/2024 của Sở G cung cấp thông tin trên đường H khu vực K, chi tiết như sau: Biển R.420 “Bắt đầu khu đông dân cư” Tại Km430+100 (phải tuyến) và Km 431+500 (Trái tuyến).

* Sau khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra thu giữ phương tiện và giấy tờ xe sau:

  • 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu THACO FOTON, BKS 36C-176.84, số khung YZ4105ZLQ*BB04005707*, số máy: RNHA1250AGC007219.
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WaveS, màu sơn đen, BKS 30Y7-0482; xe cũ đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông.
  • Giấy phép lái xe hạng C còn giá trị và các giấy tờ liên quan đến xe ô tô BKS 36C-176.84 (Giấy chứng nhận điện tử bảo hiểm xe ô tô; Giấy chứng nhận kiểm định; Đăng ký xe ô tô BKS 36C-176.84 mang tên anh Vũ Văn P; Hợp đồng khoán việc, giao khoán giữa anh Vũ Văn P và Trần Văn T; Lịch sử giám sát hành trình xe ô tô BKS 36C-176.84).
  • Thu giữ 02 file video được lưu trữ trong 01 (một) đĩa CD- R của anh Nguyễn Trí H1, SN 1990 trú tại thôn V, xã H, huyện C, TP Hà Nội.

* Về xét nghiệm ma túy và nồng độ cồn: đối với anh Trần Văn T, kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở: 0,000mg/l; Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu: Âm tính.

* Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông:

  • Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đen xám bạc, BKS 30Y7-0482: nhựa ốp đồng hồ công tơ mét bị gãy chốt hãm bật khỏi vị trí ban đầu...; Đầu tay bên trái có vết xước kích thước (0,5x0,5)cm không xác định chiều hướng, bề mặt bám dính chất màu trắng (nghi là sơn)...; đầu tay phanh bị gãy...; tay lái bên phải bị đẩy cong vặn theo hướng từ ngoài vào trong ...; cánh yếm bên trái bật chốt hãm, bề mặt có vết vỡ...; Kim loại bảo vệ vỏ máy bên trái bị đẩy theo hướng từ ngoài vào trong, từ trái sang phải...
  • Xe ô tô nhãn hiệu Thaco Foton, màu trắng, BKS 36C-176.84: ba đờ sốc trước bị đẩy theo hướng từ trước về sau, từ ngoài vào trong, bề mặt có vết trượt xước, diện (38x4)cm có hướng từ trên xuống dưới, từ trước về sau; đầu thấp nhất cách đất 41cm; đầu bên trái vết ri có vết trượt xước bong sơn, kích thước (6x1)cm...; mặt dưới mô tô còi có vết trượt xước mòn nhựa, kích thước (5x1)cm...; mặt ngoài thanh trợ lực thước lái có vết trượt xước sạch bụi đất...; mặt trong lốp trước bên trái có vết trượt xước sạch bụi...

* Kết quả giám định cơ chế va chạm:

Tại Bản kết luận giám định số: 1541/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K - Công an T6 kết luận:

“1. Dấu vết trượt xước mất sơn màu trắng, bám dính chất màu đen (dạng nhựa) trên diện (20x5)cm tại mặt ngoài phía dưới khu vực giữa ba đờ sốc trước xe ô tô BKS 36C-176.84, chiều hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái phù hợp với dấu vết trượt xước mất nhựa màu đen, bám dính chất màu trắng (dạng sơn) trên diện (18x5 )cm tại mặt ngoài ốp sườn bên trái xe mô tô BKS: 30Y-0482, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải - là dấu vết va chạm đầu tiên giữa 02 phương tiện.

- Dấu vết trượt xước mất sơn màu trắng, bám dính chất màu đen (dạng sơn) trên diện (9x7)cm tại mặt ngoài phía dưới khu vực giữa ba đờ sốc trước xe ô tô BKS 36C-176.84, chiếu hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải phù hợp với dấu vết trượt xước mất sơn màu đen, bám dính chất màu trắng (dạng sơn) trên diện (11x2)cm tại mặt ngoài lò xo giảm sóc bánh sau bên trái xe mô tô BKS 30Y-0482, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải

2. Không xác định được tốc dộ của 02 phương tiện trên khi xảy ra tai nạn”

Căn cứ kết quả thu giữ giám sát hành trình của xe ô tô tải BKS 36C-176.84, thể hiện quá trình di chuyển của xe ô tô trên trước khi xảy ra tai nạn có tốc độ trong khoảng 40km/h.

* Ngày 27/12/2023 bà Nguyễn Thị Ư tử vong tại gia đình. Cơ quan điều tra trưng cầu pháp y, tổ chức khám nghiệm tử thi bà Nguyễn Thị Ư.

- Dấu vết khám ngoài tử thi:

Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:

  • - Đầu mặt: bầm tím da vùng chẩm, kích thước (5x7)cm; bầm tím da vùng tai trái và sau vành tai trái, kích thước (7x2)cm; hai lỗ tai, hai lỗ mũi, miệng khô; cung răng chắc, không gãy răng; sờ nắn không thấy vỡ xương;
  • - Cổ vững - bầm tím da vùng cổ phải, kích thước (12x2)cm;
  • - Bầm tím da vùng cổ trái, kích thước (4x1,5)cm;
  • - Bầm tím da vai phải, kích thước (13x6)cm;
  • - Ngực trái mất vững;
  • - Bầm tím da vùng ngực trái, kích thước (9x7)cm;
  • - Rách da mạn sườn phải còn chỉ khâu, kích thước (1x0,5)cm (dấu vết dạng dẫn lưu);
  • - Bầm tím da mạn sườn phải, kích thước (1x1)cm;
  • - Tay phải: bầm tím da khuỷa tay và cẳng tay, kích thước (27x10)cm; Sờ nắn không thấy gãy xương;
  • - Bầm tím da nếp cằm bên phải, kích thước (1x0,5)cm, nếp cằm bên trái, kích thước (1x1)cm;
  • - Tay trái: bầm tím da mặt trước khuỷa tay và cẳng tay, kích thước (22x7)cm; bầm tím da mu bàn tay, kích thước (4x2)cm; Sờ nắn không thấy gãy xương;...
  • - Chân phải: bầm tím da mặt trong đùi, kích thước (2x2)cm; Sờ nắn không thấy gãy xương;
  • - Chân trái: bầm tím da mặt trước đùi, kích thước (3x3)cm; Bầm tím da mặt sau trong gối, kích thước (5x8)cm; bầm tím da mặt trong cổ chân, kích thước (1x1)cm; Sờ nắn không thấy gãy xương;
  • - Sây sát da vùng thắt lưng, thắt lưng phải, kích thước (11x1,5)cm;
  • - Ngoài các dấu vết đã mô tả không phát hiện thương tích nào khác.

Mổ tử thi: không mổ; gia đình cương quyết từ chối và cản trở nên không thể tiến hành pháp y tử thi, nên không có căn cứ kết luận nguyên nhân chết.”

- Tại bản Kết luận giám định tử thi số 75/06/KLGĐTT-TTPY ngày 23/01/2024 của bà Nguyễn Thị Ư kết luận như sau:

1. Các kết quả chính:

  • - Kết quả khám nghiệm: Bầm tím da vùng chẩm; Bầm tím da vùng tai trái và sau vành tai trái; bầm tím da vùng cổ phải; Bầm tím da vùng cổ tráI; Bầm tím da vùng ngực trái; Bầm tím da vai phải; Rách da mạn sườn phải còn chỉ khâu, (dấu vết dạng dẫn lưu); Bầm tím da mạn sườn phải; Bầm tím da khuỷa tay và cẳng tay phải; Bầm tím da mặt trước khuỷa tay và cẳng tay trái; Bầm tím da mu bàn tay trái; Bầm tím da mặt trong đùi phải; Bầm tím da mặt trước đùi trái; Bầm tím da mặt sau trong gối trái; Bầm tím da mặt trong cổ chân trái.
  • - Kết quả xét nghiệm, giám định khác, Kết luận giám định độc chất: Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Thị U giám định: Không tìm thấy E trong mẫu máu; Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Thị U giám định: Không tìm thấy các chất ma túy.

2. Kết luận: Kết luận nguyên nhân chết: Do không mổ tử thi nên không kết luận được nguyên nhân chết .”

- Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định nguyên nhân chết qua hồ sơ bệnh án bà Nguyễn Thị Ư. Kết quả giám định tử thi qua hồ sơ số 37/36/KLTTHS-TTPY ngày 24/5/2024 của Trung tâm P1 kết luận:

“Căn cứ bản Sao y Bệnh án ngoại khoa mã bệnh nhân 23290210 của Bệnh viện Q - Học viện Q1, thành phố Hà Nội nhận định: Nạn nhân Nguyễn Thị U, sinh năm 1954, nhiều khả năng tử vong do Đ chấn thương: Chấn thương sọ não nặng (máu tụ dưới màng cứng bán cầu não phải, dập não xuất huyết vùng trán hai bên, xuất hiện dưới nhện vùng trán phải và vùng đỉnh trái, xuất huyết liềm đại não và lều tiểu não), chấn thương ngực kín (Gãy cung bên xương sườn V bên trái; Tràn khí khoang màng phổi phải, dập phổi hai bên) dẫn đến suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp không hồi phục ./."

* Bản kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐG ngày 26/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, Hà Nội kết luận:

  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave S, màu sơn đen, BKS 30Y7-0482, xe cũ đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông. Giá trị các thiết bị, phụ tùng bị hư hỏng cần thay thế sử chữa là 2.330.000 đồng.

* Giám định dữ liệu điện tử (video) đã thu giữ 02 file video.

Tại Bản kết luận giám định số: 863/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của V - Bộ C1, kết luận: “Không xác định được các tệp video gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không do các tệp video được ghi lại từ màn hình của một thiết bị khác, do đó không tiến hành giám định các yêu cầu còn lại.”

* Xác minh giấy phép lái xe:

  • Trần Văn T đã cung cấp giấy phép lái xe hạng C còn giá trị và các giấy tờ liên quan đến xe ô tô BKS 36C-176.84.
  • Ngày 20/4/2024 Cơ quan CSĐT đã nhận được Công văn số 1895/SGTVT-QLPT&NL ngày 08/4/2024 của Sở G về việc xác minh thông tin giấy phép lái xe mô tô của bà Nguyễn Thị Ư, xác định: “Kết quả tra cứu thông tin lưu trữ theo quy định, về lưu trữ quản lý giấy phép lái xe của Sở G không có các thông tin về giấy phép lái xe mô tô mang tên Nguyễn Thị Ư (SN 01/01/1954, nơi thường trú: thôn V, xã H, huyện С, Тр.)”.

* Về trách nhiệm dân sự: Trần Văn T đã khắc phục hậu quả, bồi thường cho gia đình bà Nguyễn Thị Ước S tiền 200.000.000 đồng. Đại diện ủy quyền của gia đình bà Nguyễn Thị Ư là chị Phùng Thị M (con gái đẻ của bà U) đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu T phải hỗ trợ, bồi thường thêm.

* Xử lý vật chứng:

  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WaveS, màu sơn đen, BKS 30Y7-0482; xe cũ đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông. Cơ quan CSĐT xác minh phương tiện thấy đây là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Ư và ông Phùng Minh T5 (chồng bà Ư). Ngày 05/9/2024, CQĐT đã trả chiếc xe mô tô trên cho chị Phùng Thị M.
  • 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu THACO FOTON, BKS 36C-17684, số khung YZ4105ZLQ*BB04005707*, số máy: RNHA1250AGC007219. Cơ quan CSĐT xác minh phương tiện thấy đây là tài sản hợp pháp của anh Vũ Văn P. Anh P thuê Trần Văn T điều khiển chiếc xe trên để chở hàng thì xảy ra tai nạn giao thông. Anh P ủy quyền cho anh Bùi Duy H giải quyết vụ việc trên, anh H có đơn xin lại chiếc xe ô tô để sử dụng, quản lý theo quy định. Ngày 23/02/2024, CQĐT ra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cùng toàn bộ bản chính giấy tờ xe cho anh Bùi Duy H quản lý, sử dụng.

* Giấy tờ còn thu giữ chuyển theo hồ sơ vụ án:

  • Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 09/12/2022 mang tên Trần Văn T (có giá trị đến 09/12/2027).
  • Thu giữ 02 file video được lưu trữ trong 01 (một) đĩa CD- R.

Tại Bản Cáo trạng số 138/CT-VKS ngày 24/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố: Trần Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo T: đã khai nhận diễn biến sự việc xảy ra va chạm giao thông gây hậu quả bà Nguyễn Thị Ư chết như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin lỗi gia đình nạn nhân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt được cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm sóc bố mẹ già và con nhỏ. Về trách nhiệm dân sự: Số tiền 200 triệu đồng bồi thường cho gia đình bà Ư là của bị cáo.
  • - Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố. Đề nghị: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trường từ 15-18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 – 36 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự. Đề nghị trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe. Về trách nhiệm dân sự: Do gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề nghị xem xét. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • - Chị Phùng Thị M trình bày: Chị là con gái bà Ư, đại diện cho gia đình để giải quyết vụ việc tai nạn. Chị xác nhận bị cáo Trần Văn T đã bồi thường 200.000.000 đồng, gia đình chị đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ và của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong giai đoạn điều tra, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người tham gia tố tụng không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.

[1.2]. Về sự vắng mặt của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện ủy quyền của họ:

Những người này có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét thấy các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là:

Sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn; biên bản khám nghiệm phương tiện; kết luận giám định; vật chứng thu giữ, lời khai của bị cáo, người làm chứng phù hợp với hình ảnh trong video clip từ camera hành trình của xe ô tô BKS 36C-176.84, camera khu vực xung quanh hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 26/12/2023, T điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu THACO FOTON, BKS 36C-17684 đi trên đường H hướng X đi Miếu M đến Km 430+900 thuộc địa phận thôn V, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội, thì phát hiện phía trước cùng chiều cách khoảng 30-50m bên phải lề đường có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS BKS 30Y7-0482 do bà Nguyễn Thị Ư điều khiển. Lúc này T vẫn điều khiển xe đi bình thường, khi cách xe mô tô khoảng 5m thì T thấy xe mô tô chuyển hướng rẽ sang bên trái đường không có đèn tín hiệu xin đường. Do khoảng cách quá gần và bất ngờ nên T đã đánh lái sang trái để tránh đồng thời đạp phanh xe nhưng phần đầu xe ô tô ở khu vực giữa ba đờ sốc trước xe ô tô đâm vào phía sườn bên trái của xe mô tô làm xe mô tô bị đổ sang bên phải vào gầm gần bánh sau bên trái của xe ô tô và bị kéo rê đi khoảng hơn 1m thì mới dừng lại. Bà Ư điều khiển xe mô tô bị ngã bất tỉnh văng ra phía trước cách đầu xe ô tô khoảng hơn 1m. Hậu quả, bà Nguyễn Thị Ư tử vong do đa chấn thương, xe mô tô bị hư hỏng thiệt hại 2.330.000 đồng. Hành vi trên của Trần Văn T đã vi phạm khoản 2 Điều 11 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ.

* Khoản 2 Điều 11 Thông tư 31/2019 ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định.

... Khi điều khiển xe chạy dưới tốc độ 60 Km/h, người lái xe phải chủ động giữ khoảng cách an toàn phù hợp với xe chạy liền trước của xe mình. Khoảng cách này tùy thuộc vào mật độ phương tiện, tình hình giao thông thực tế để đảm bảo an toàn giao thông.

* Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ, quy định:

“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.”

* Khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ, quy định:

“Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe

1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo...”

Đối với bà Nguyễn Thị Ư: có hành vi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe, không chú ý quan sát, chuyển hướng sang đường không đảm bảo an toàn, không bật xi nhan xin đường, không nhường đường cho phương tiện tham gia giao thông trên trục đường chính (ưu tiên), gây tai nạn làm chính bản thân bà Ư tử vong. Hành vi của bà Ư vi phạm khoản 9 Điều 8; khoản 1 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Do bà Ư đã tử vong nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý.

Hành vi của Trần Văn T đã phạm vào khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người; ...”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố hành vi của Trần Văn T theo tội danh và điều luật nói trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn công cộng, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, trực tiếp xâm phạm đến sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản của người khác. Do vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như phòng ngừa chung.

[2.2]. Để có căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá nguyên nhân, hậu quả và lỗi của các bên khi tham gia giao thông và nhân thân của bị cáo:

Trong vụ án này, nguyên nhân là do lỗi của bị cáo T và bà Ư, cụ thể: Bà Ư điều khiển xe mô tô đang ở làn đường bên phải, khi có dự định rẽ trái sang đường, đáng lẽ bà Ư phải giảm tốc độ để nhường đường cho xe ô tô BKS 36C-176.84 do T điều khiển đang trên trục đường chính (ưu tiên), nhưng bà Ư đã chuyển hướng sang đường mà không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn, không bật đèn xin đường. Còn bị cáo T điều khiển xe ô tô không giảm tốc độ đảm bảo an toàn, không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi trước cùng chiều, dẫn đến không kịp xử lý tình huống, không kịp phanh xe ô tô, vội vàng đánh lái xe sang bên trái để tránh nên đã đâm vào bên sườn trái xe mô tô BKS 30Y7-0482 do bà Nguyễn Thị Ư điều khiển, dẫn đến hậu quả bà Nguyễn Thị Ư tử vong.

Do vậy, đối với T sẽ áp dụng mức hình phạt phù hợp để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đã tích cực bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; được gia đình bị hại làm đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt; sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã tích cực đưa người bị hại đi cấp cứu; sau đó bị cáo đã đầu thú trình báo sự việc là các tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạm tội do lỗi vô ý, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[2.3] Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo chỉ có một phần lỗi trong vụ án nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Đối với việc bà Nguyễn Thị Ư không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, cơ quan CSĐT xác định: Do bà Ư cùng ông Phùng Minh T5 là người trực tiếp mua và quản lý sử dụng chiếc xe mô tô BKS 30Y7-0482, nhưng cả ông T5 và bà Ư đều đã chết; ngoài ra, gia đình bà Ư không ai giao chiếc xe trên cho bà Ư, cũng như không biết việc bà Ư điều khiển chiếc xe mô tô trên trước khi xảy ra tai nạn, nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý đối với hành vi “...giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 264 BLHS trong vụ án trên.

Đối với anh Vũ Văn P là chủ xe ô tô tải BKS 36C-176.84 là người ký hợp đồng lao động thuê Trần Văn T lái xe chở hàng. T là người có bằng lái xe đúng quy định, xe đủ điều kiện lưu thông trên đường nên việc T gây tai nạn giao thông không có lỗi của anh Vũ Văn P, nên CQĐT không xem xét xử lý là có căn cứ.

[3]. Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về xử lý vật chứng:

Đối với Giấy phép lái xe của bị cáo T được chuyển theo hồ sơ vụ án: Do Hội đồng xét xử xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và do không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự, nên trả lại Giấy phép lái xe cho bị cáo. Việc trả lại giấy phép cho bị cáo do Tòa án thực hiện.

[5]. Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:

Trần Văn T: 15 (mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn T cho UBND xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp những người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Trần Văn T 01 bản chính Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 09/12/2022 mang tên Trần Văn T (có giá trị đến 09/12/2027).

(Do Tòa án thực hiện việc trả cho Trần Văn T).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho người bị hại, người đại diện ủy quyền cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; NĐDHP cho bị hại; NCQLNVLQ;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - TT lý lịch-Sở Tư pháp TP.Hà Nội;
  • - Chi cục THADS huyện Chương Mỹ;
  • - Lưu HS -VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2024/HSST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 156/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger