Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 156/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chung Quốc Hội

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Rạng Đông – Nguyên Trưởng phòng Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Phú Quốc.

Ông Đinh Quang Tuyến.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đình Toàn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà: Bà Đặng Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Trung T, sinh ngày 26/5/2006, tại C, An Giang;

Tên gọi khác: Không;

Nơi ĐKTT: Ấp Phước Quới C, xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang;

Chỗ ở: Khu phố 6, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 5/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Trần Trung T1 và bà Huỳnh Thị X;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2024 đến nay;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Nguyễn Trường T2, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K (có mặt).

Bị hại:

  • - Cháu Huỳnh Xuân M, sinh năm 2012 (có đơn vắng mặt).
  • Người đại diện của cháu M: Bà Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1971 (có đơn vắng mặt).

    Địa chỉ: Khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

  • - Cháu Nguyễn Thị Ái P, sinh năm 2013 (vắng mặt).
  • Người đại diện của cháu P: Bà Nguyễn Thị Ái D, sinh năm 1993 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

  • - Cháu Huỳnh Ngọc K, sinh năm 2014 (vắng mặt).
  • Người đại diện của cháu K: Bà Trương Thị C, sinh năm 1986 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu M, cháu P, cháu K: Ông Trần Duy K1, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Cháu Nguyễn Phước H, sinh năm 2010 (vắng mặt).

Người đại diện của cháu H: Bà Trần Thị L, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp, cần tiền tiêu xài nên bị cáo Trần Trung T rủ Nguyễn Phước H (sinh ngày 09/4/2010) đi giật tiền của mấy em nhỏ bán vé số, thì H đồng ý. Trong ngày 22/01/2024 và ngày 04/02/2024 bị cáo T và H đã thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn xã D và phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 09 giờ ngày 22/01/2024, bị cáo T điều khiển xe mô tô tô hiệu Yamaha, loại Sirus, biển số 95E2- 008.86 (xe của ông Trần Minh C1 là ông nội của bị cáo T) chở H chạy đến đoạn đường thuộc tổ A, ấp S, xã D, thành phố P nhìn thấy em Nguyễn Thị Ái P, sinh ngày 28/10/2013, đang đi bán vé số dạo nên bị cáo T chạy xe lại mua 01 tờ vé số và đưa cho em P 20.000 đồng, em P mở túi đeo bên người lấy tiền ra để hoàn lại tiền thừa, thì bị cáo T thò tay vào túi giật lấy xấp tiền 1.120.000 đồng của em P và chạy xe chở H về phòng trọ của bị cáo T thuê ở tại khu phố F, phường A, thành phố P chia nhau mỗi người 560.000 đồng và tiêu xài hết.

Lần thứ hai: Vào khoảng 14 giờ ngày 04/02/2024, H điều khiển xe mô tô Yamaha, loại Sirus biển số 95E2- 008.86 chở bị cáo T chạy đến dốc tượng đài thuộc khu phố F, phường A, thành phố P nhìn thấy em Huỳnh Ngọc K, sinh ngày 19/3/2014 đi bán vé số nên H chở T đến, bị cáo T ngồi sau mua 01 tờ vé số và đưa cho em K 50.000 đồng, em K mở túi lấy tiền ra để thối, thì bị cáo T thò tay vào túi giật lấy 430.000 đồng của em K, H điều khiển xe bỏ chạy về phòng trọ của bị cáo T. Số tiền trên T và H đã sử dụng hết 80.000 đồng còn lại 350.000 đồng.

Lần thứ ba: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 04/02/2024, H tiếp tục điều khiển xe mô tô Yamaha, loại Sirus, biển số 95E2-008.86 chở bị cáo T đến khu vực cáp treo thuộc khu phố F, phường A, thành phố P nhìn thấy em Huỳnh Xuân M, sinh ngày 10/7/2012 đang đứng nên H chở bị cáo T lại hỏi mua vé số, em M nói đã bán hết, thì bị cáo T bàn với H đổi tiền lẽ để giật tiền, H và bị cáo T tiếp tục lại chỗ em M, bị cáo T hỏi em M đổi tiền lẽ và đưa cho em M 50.000 đồng, em M mở khóa kéo túi xách lấy tiền để đổi, thì bị cáo T thò tay vào túi giật lấy số tiền 2.680.000 đồng của em M, H điều xe chở T bỏ chạy về gần tới phòng trọ của bị cáo T thuê ở, thì bị Công an bắt giữ. Ngày 06/02/2024, bị cáo Trần Trung T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra đến nay.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirus, màu đỏ đen, biển số 95E2-008.86 cùng chìa khóa xe (xe của ông Trần Minh C1);
  • - Tiền Việt Nam: 3.030.000 đồng.
  • - 02 quần vải màu đen, đã qua sử dụng;
  • - 02 áo vải màu đen, đã qua sử dụng;
  • - 02 nón bảo hiểm màu đen, đã qua sử dụng.

Tại bản cáo trạng số: 130/CT-VKSPQ ngày 18 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố đối với bị cáo Trần Trung T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, khoản 1, khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 38 xử phạt bị cáo T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Huỳnh Xuân M và người đại diện của bị hại Huỳnh Ngọc K đã nhận được số tiền bị 2.680.000 đồng, không yêu cầu bồi thường, đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Bị hại Nguyễn Thị Ái P và người đại diện của bị hại Nguyễn Thị Ái D yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.120.000 đồng, bà Trần Thị L (mẹ của Nguyễn Phước H) nộp tiền bồi thường thiệt hại theo Biên lai thu tiền số: 0000130 ngày 23/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Bị hại Huỳnh Ngọc K và người đại diện của bị hại Trương Thị C đã nhận lại số tiền 350.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thêm, đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tuyên 02 quần vải màu đen, đã qua sử dụng, 02 áo vải màu đen, đã qua sử dụng, 02 nón bảo hiểm màu đen, thu giữ của bị cáo T và H, vì không còn giá trị sử dụng.

Sau khi vụ án xảy ra, ông Trần Minh C1 là chủ sở hữu xe không biết bị cáo T mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông C1, đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Đối với Nguyễn Phước H khi phạm tội chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng: Bị cáo T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định ngày 22/01/2024 và ngày 04/02/2024 bị cáo T và H đã thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn xã D và phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, trong đó cướp giật của em Nguyễn Thị Ái P 1.120.000 đồng; cướp giật của em Huỳnh Ngọc K 430.000 đồng; cướp giật của em Huỳnh Xuân M 2.680.000 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “cướp giật tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo T nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của của cơ quan, tổ chức, cá nhân là vi phạm pháp luật nhưng với bản tính lười lao động, muốn hưởng lợi bất chính từ tài sản của người khác nên đã rủ Nguyễn Phước H (là người dưới 18 tuổi) thực hiện hành vi giật tiền của các em nhỏ bán vé số, không có khả năng tự vệ để lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và mất an ninh trật tự tại địa phương. Trong phần nghị án, Hội đồng xét xử quyết định cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đồng thời, có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Do bị cáo T không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đối với Nguyễn Phước H khi phạm tội chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không xử lý.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T phạm tội từ hai lần trở lên thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bà Trần Thị L (mẹ của Nguyễn Phước H) nộp tiền bồi thường thiệt hại cho bị cáo T và H đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại.

Bị hại Huỳnh Xuân M và người đại diện của bị hại Huỳnh Ngọc K đã nhận được số tiền bị 2.680.000 đồng, không yêu cầu bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị hại Huỳnh Ngọc K và người đại diện của bị hại Trương Thị C đã nhận lại số tiền 350.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị hại Nguyễn Thị Ái P và người đại diện của bị hại Nguyễn Thị Ái D yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.120.000 đồng. Bà Trần Thị L (mẹ của Nguyễn Phước H) nộp tiền bồi thường thiệt hại theo Biên lai thu tiền số: 0000130 ngày 23/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, Hội đồng ghi nhận.

[5] Về xử lý vật chứng:

Sau khi vụ án xảy ra, ông Trần Minh C1 đã nhận lại xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirus, màu đỏ đen, biển số 95E2-008.86 cùng chìa khóa xe, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với vật chứng là 02 quần vải màu đen, đã qua sử dụng, 02 áo vải màu đen, đã qua sử dụng, 02 nón bảo hiểm màu đen, thu giữ của bị cáo T và H, không còn giá trị sử dụng, nên cần xem xét tuyên tích thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo T là trẻ em thuộc trường hợp không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về trách nhiệm hình sự:

1.1 Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1, khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Trung T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 04/02/2024.

Do bị cáo T không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

2. Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại:

Các bị hại Huỳnh Xuân M và người đại diện của bị hại Huỳnh Ngọc K; bị hại Huỳnh Ngọc K và người đại diện của bị hại Trương Thị C; đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị hại Nguyễn Thị Ái P và người đại diện của bị hại Nguyễn Thị Ái D được nhận số tiền 1.120.000 đồng do bà Trần Thị L (mẹ của Nguyễn Phước H) nộp tiền bồi thường thiệt hại theo Biên lai thu tiền số: 0000130 ngày 23/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.

3. Về xử lý vật chứng:

Tuyên tịch thu tiêu hủy 02 quần vải màu đen, đã qua sử dụng, 02 áo vải màu đen, đã qua sử dụng, 02 nón bảo hiểm màu đen, thu giữ của bị cáo T và H, không còn giá trị sử dụng.

Các vật chứng trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07/8/2024.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Trung T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người đại diện của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND Tp. Phú Quốc;
  • - Chi cục THADS Tp. Phú Quốc;
  • - Nhà tạm giữ CA Tp. Phú Quốc;
  • - Bị cáo, bị hại; Người TGTT;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Quốc Hội

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự - cướp giật tài sản

  • Số bản án: 156/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tiền của người bán vé số
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger