|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 156/DS-ST
Ngày: 23/9/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
2/ Bà Nguyễn Thị Xuyến
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thuỷ Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Sương – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 387/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 201/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 537/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
Trụ sở: Phường V, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Phường T, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Thân Lê N (Theo Giấy ủy quyền số 2645/2023/UQ-TGĐ ngày 21/8/2023). (Có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Yu Kha U, sinh năm 1993
Địa chỉ: Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 28/9/2023, các lời khai và các Biên bản không tiến hành hòa giải được trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) có ông Thân Lê N là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền thống nhất trình bày:
Ngày 07/10/2017, ông Yu Kha U có ký với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Yu Kha U, ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Uy đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 49.158.248 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Uy đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 41.462.812 đồng. Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, cụ thể như sau:
- + Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước
- + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
- + Giao dịch mua hàng hoá của kỳ trước
- + Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ
- + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
- + Giao dịch mua hàng hoá trong kỳ
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Uy vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Uy vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), nên ngày 01/02/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 24.098.029 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Do ông Uy vi phạm nghĩa vụ thanh toán, mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông Uy, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông Uy vẫn chưa thanh toán nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Yu Kha U phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/7/2024 là 75.129.712 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 24.098.029 đồng; Lãi quá hạn: 53.161.919 đồng; Tổng cộng: 77.259.948 đồng. Ngoài ra ông Yu Kha U vẫn phải còn phải tiếp tục trả khoản lãi phát sinh từ ngày 18/79/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.
Khi ký kết hợp đồng do một mình ông Yu Kha U ký và Ngân hàng cũng chỉ cấp một thẻ tín dụng cho ông Yu Kha U, ngoài ra không cấp thêm thẻ phụ nào cả. Do đó Ngân hàng chỉ yêu cầu một mình ông Yu Kha U phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ.
Bị đơn ông Yu Kha U đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo qui định của pháp luật, nhưng ông Uy vẫn không có mặt theo triệu tập nên Tòa án không ghi nhận được lời khai của ông Uy.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương có ông Thân Lê N là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt 15/7/2024, ông Nguyên xác định lại yêu cầu khởi kiện như sau:
Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện cụ thể yêu cầu Tòa án buộc ông Uy phải trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/9/2024 là 77.259.948 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi bảy triệu hai trăm năm mươi chín nghìn chín trăm bốn mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc: 24.098.029 đồng; Lãi quá hạn: 53.161.919 đồng. Ngoài ra ông Yu Kha U vẫn phải còn phải tiếp tục trả khoản lãi phát sinh từ ngày 24/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn ông Yu Kha U vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết, thu thập chứng cứ và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền:
[1.1]. Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện bị đơn ông Yu Kha U phải trả số tiền nợ gốc, nợ lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng nên đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[1.2]. Về thẩm quyền: Theo kết quả xác minh của Công an Phường 5, Quận 3 trả lời Phiếu yêu cầu xác minh ngày 02/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 3 thể hiện: “Công dân Yu Kha U – 1993 có đăng ký thường trú tại địa chỉ 453/18 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 5, Quận 3 nhưng hiện không thực tế cư trú tại địa phương. ...”
Căn cứ kết quả xác minh trên cho thấy sau khi ký kết hợp đồng, bị đơn ông Yu Kha U đã thay đổi nơi cư trú, làm việc gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho Nguyên đơn biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên đây được xem là trường hợp cố tình che giấu địa chỉ, được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, nơi cư trú tại Quận 3 của ông Uy được xem là nơi cư trú cuối cùng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2]. Về thủ tục xét xử vắng mặt:
[2.1]. Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có ông Thân Lê N là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án giải quyết vắng mặt nguyên đơn.
[2.2]. Bị đơn ông Yu Kha U đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân Quận 3 tiến hành xét xử vắng mặt ông Yu Kha U.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Đối vối yêu cầu thanh toán nợ gốc:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được Sacombank phê duyệt ngày 07/10/2017 thì giữa chủ thẻ chính là ông Yu Kha U và bên phát hành thẻ là Sacombank có thỏa thuận việc cấp và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Sacombank JCB Card với hạn mức sử dụng là: 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Căn cứ các Bảng tóm tắt sao kê do Sacombank và Sao kê chi tiết giao dịch của ông Yu Kha U có số chứng minh nhân dân [...] do Ngân hàng cung cấp thì ông Uy bắt đầu sử dụng và có thanh toán đều cho Ngân hàng, nhưng đến tháng 01/2020 thì ngưng thanh toán. Nên ngày 01/02/2020, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 24.098.029 đồng sang quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 3.9% (= lãi suất trong hạn 2,6% x 150%) (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...”
Căn cứ Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015: “1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận. 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc...”.
Căn cứ Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quy định “... số tiền thanh toán sẽ được ưu tiên trừ vào các khoản phí, lãi trước sau đó sẽ trừ tiếp vào các khoản giao dịch.”
Căn cứ Điều 2 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quy định “... Chủ thẻ có trách nhiệm đối với việc thanh toán tất cả giao dịch và tất cả các khoản phí, chi phí phát sinh.... .”
Căn cứ Khoản 1, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.
Xét Bị đơn ông Yu Kha U đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù đã được Ngân hàng thông báo nhắc nợ nhiều lần nhưng phía bị đơn vẫn không có thiện chí thanh toán đầy đủ nợ cho Ngân hàng là đã vi phạm các điều khoản thỏa thuận đã ký kết trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng. Do đó việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông phải có nghĩa vụ trả số tiền gốc 24.098.029 đồng là có cơ sở để chấp nhận.
[3.2]. Đối với yêu cầu trả tiền lãi quá hạn (tạm tính đến ngày 23/9/2024) 53.161.919 đồng và buộc ông Uy phải tiếp tục chịu tiền lãi kể từ ngày 24/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng. Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự: “... 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc...”.
Căn cứ Khoản 2, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Căn cứ Điều 20 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quy định: “Thanh toán sẽ áp dụng theo thứ tự sau : các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước ...”.
Căn cứ Điều 22 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quy định: “Chủ thẻ đồng ý thanh toán lãi suất phát sinh tên tài khoản...”.
Căn cứ Điều 23 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quy định: “Áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại)...”.
Xét trong quá trình thanh toán nợ cho Ngân hàng, bị đơn ông Yu Kha U đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản nợ của ông Uy sang nợ quá hạn kể từ ngày 01/02/2020 là phù hợp.
Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của Nguyên đơn Ngân hàng về việc buộc bị đơn ông Yu Kha U phải trả tiền lãi (tạm tính đến ngày 23/9/2024) 53.161.919 đồng và buộc ông Uy phải tiếp tục chịu tiền lãi, theo mức lãi thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cho đến khi thanh toán hết nợ là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được chấp nhận nên bị đơn ông Yu Kha U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.862.997 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 280; Điều 463; Khoản 1 Điều 466: Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Buộc ông Yu Kha U phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm tính đến ngày 23/9/2024 là 77.259.948 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi bảy triệu hai trăm năm mươi chín nghìn chín trăm bốn mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc: 24.098.029 đồng; Lãi quá hạn: 53.161.919 đồng. Ngoài ra, ông Yu Kha U vẫn phải còn phải tiếp tục trả khoản lãi phát sinh từ ngày 24/9/2024 theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Việc thanh toán được thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Yu Kha U còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất do hai bên thoả thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng được Ngân hàng phê duyệt ngày 07/10/2017 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Việc thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Yu Kha U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.862.997 đồng (Bằng chữ: Chín triệu tám trăm sáu mươi hai nghìn chín trăm chín mươi bảy đồng).
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền án phí đã tạm nộp là 1.608.831 đồng (Bằng chữ: Một triệu sáu trăm lẻ tám nghìn tám trăm ba mươi mốt đồng). theo biên lai thu số AA/2022/0002154 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Hoa |
7
Bản án số 156/DS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 156/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
