Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 156/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/8/2024

Về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Hồng Gái

2. Ông Nguyễn Văn Đoạt

- Thư ký ghi biên bản: Bà Đinh Thị Ngọc Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất: không tham gia phiên tòa.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 176/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Mỹ L, sinh năm 1995 (có mặt)
  2. Địa chỉ: Ấp Số Tám, xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn P, sinh năm 1985 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn xin ly hôn, chị Ngô Thị Mỹ L trình bày:

Chị với anh Nguyễn Tấn P tự tìm hiểu yêu thương nhau và chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 12 tháng 8 năm 2013. Trong thời kỳ hôn nhân anh chị có 01 người con chung tên Nguyễn Hữu C, sinh ngày 03 tháng 8 năm 2014. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng về sau mâu thuẫn phát sinh do cách sống và suy nghĩ của hai bên không đồng nhất, không có được tiếng nói chung nên dẫn đến nhiều bất hoà, cuộc sống gia đình không được hạnh phúc. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Xét thấy tình cảm giữa chị và anh P không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu giải quyết các vấn đề sau:

Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tấn P.

Về con chung: Hiện nay anh P đang nuôi con nên chị L đồng ý giao con cho anh P tiếp tục nuôi, chị sẽ cấp dưỡng tuỳ theo khả năng của mình.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Tấn P trình bày tại bản tự khai như sau:

Tôi và cô Ngô Thị Mỹ L lấy nhau là do tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, hai bên có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 12/8/2013. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng tôi sinh được một con chung tên Nguyễn Hữu C, sinh ngày 03/8/2014. Vợ tôi đã bỏ đi nhiều năm nay rồi, tôi không biết ở đâu. Nay tôi đồng ý ly hôn với cô L.

Tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hữu C đến tuổi trưởng thành; tôi đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu cô L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Ngô Thị Mỹ L có yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Tấn P. Phía bị đơn cư trú tại ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Xét thấy đây là tranh chấp về quan hệ hôn nhân gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Mỹ L và anh Nguyễn Tấn P kết hôn là do tự nguyện yêu thương và đi đến hôn nhân. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang theo Giấy đăng ký kết hôn ngày 12/8/2013 là đúng quy định của Luật Hôn nhân gia đình. Do đó, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung dẫn đến việc hai bên sống ly thân từ đầu năm 2016 cho đến nay, không quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy: Chị L và anh Phát hiện T đang sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến cuộc sống của nhau trong suốt thời gian dài. Tại Bản tự khai, anh P cũng thể hiện quan điểm muốn được ly hôn với chị L. Như vậy chứng tỏ, cuộc sống hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ngô Thị Mỹ L.

[4]. Về con chung: Anh chị có 01 người con chung tên Nguyễn Hữu C, sinh ngày 03/8/2014, hiện nay anh P đang trực tiếp nuôi con nên chị L đồng ý giao con cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc đến tuổi trưởng thành. Ý kiến của chị L phù hợp với yêu cầu của anh P và nguyện vọng của cháu C nên HĐXX chấp nhận, giao cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hữu C.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phát nuôi con nhưng không có yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ những nhận định trên, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ngô Thị Mỹ L.

[6]. Về án phí: Chị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 28, 228, 266 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Ngô Thị Mỹ L và anh Nguyễn Tấn P ly hôn.
  2. Về con chung:
  3. Giao cho anh Nguyễn Tấn P được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Hữu C, sinh ngày 03/8/2014 đến khi con đủ tuổi trưởng thành.

    Trong thời gian anh P nuôi dưỡng con chung, chị L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha (mẹ) các cháu hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
  5. Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: Chị Ngô Thị Mỹ L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo biên lai thu số 0000997 ngày 23 tháng 4 năm 2024. Chị L không phải nộp thêm.

Án xử công khai. Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Nguyễn Tấn P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKS cùng cấp;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Hòn Đất;
  • - UBND xã nơi ĐKKH;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán – Chủ Phiên Tòa

Nguyễn Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 156/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger