|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 156/2024/HNGĐ -ST
Ngày 29/8/2024.
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quách Thanh Tồn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Phước;
- Ông Trần Thanh Tuấn.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Lý Thị Nhiên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 207/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 326/2024/QĐST- HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 339/2024/QĐST-DS ngày 12/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1985;
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 2001;
Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
(Anh N có đơn xin vắng mặt, chị L vắng mặt tại phiên tòa lần 2).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Lẹ đơn anh Nguyễn Văn N có lời khai trình bày: Anh với chị Nguyễn Thị L làm đám cưới trên tinh thần tự nguyện vào năm 2021, còn ngày tháng thì không nhớ, có đăng ký kết hôn vào ngày 27/9/2021 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P. Trong thời kỳ hôn nhân, anh và chị có 01 người con Nguyễn Khánh A, sinh ngày 25/3/2022, hiện đang sống với anh; Về tài sản chung, nợ chung anh và chị không có tài sản chung, không nợ ai hoặc ai nợ anh, chị. Nay anh N yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị L, yêu cầu được tiếp tục nuôi người con tên Nguyễn Khánh A, sinh ngày 25/3/2022, không yêu cầu chị L cấp dưỡng tiền nuôi con; về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị L vắng mặt mặc dù được Tòa án nhân dân huyện Phước Long triệu tập hợp lệ nhiều lần nên không có lời khai.
Đại diện của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long trình bày quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký và L đơn là đúng theo quy định của luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chư chấp hành quy định của khoản 15, 16 Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Về hôn nhân: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn N, cho anh N được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Á lệ số 54/2022/AL về xác định quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong trường hợp người mẹ không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, tiếp tục giao cháu Nguyễn Khánh A, sinh ngày 25/3/2022 cho anh N nuôi dưỡng, chăm sóc; chị L có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở; Về cấp dưỡng, do N không yêu cầu xem xét, giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
+ Về tài sản chung, nợ chung: không có, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị không đặt ra xem xét giải quyết.
+ Về án phí: anh N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn N kiện chị Nguyễn Thị L về việc Hôn nhân gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Chị L có địa chỉ cư trú tại ấp T, xã H, huyện P nên Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 28; Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh N có đơn xin vắng mặt, chị L vắng mặt lần 2 tại phiên xét xử nên việc xét xử vắng mặt anh N và chị L là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn N xác định anh và chị Nguyễn Thị L làm đám cưới trên tinh thần tự nguyện vào năm 2021, còn ngày tháng thì không nhớ, có đăng ký kết hôn vào ngày 27/9/2021 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Tại Giấy đăng ký kết hôn ngày 27/9/2021 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, thể hiện anh N và chị L có đăng ký kết hôn vào ngày 27/9/2021. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của anh N và chị L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; nay anh N yêu cầu ly hôn với chị L. Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn về hôn nhân của anh N và chị L là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; theo lời khai của anh N thì anh và chị L không còn sống chung từ ngày 30/4/2024 đến nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn N, cho anh N được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
[3] Về con chung: Theo lời khai của anh Nguyễn Văn N và giấy khai sinh do anh cung cấp thì anh và chị L có 01 người con tên Nguyễn Khánh A, sinh ngày 25/3/2022, hiện đang sống với anh, khi ly hôn anh N có yêu cầu nuôi cháu A, không yêu cầu chị L cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy, cháu A hiện dưới 36 tháng tuổi. Tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014định “Con dưới 36 tháng tuổi phải giao cho mẹ trực tiếp nuôi...”, tuy nhiên khi chị L không còn sống chung với anh N thì chị L giao cháu A cho anh N nuôi dưỡng từ đó đến nay; anh N có việc làm thu nhập ổn định, hoàn toàn đủ điều kiện để nuôi cháu A. Hiện tại, cháu A đã quen với điều kiện, môi trường sống và được anh N nuôi dưỡng, chăm sóc đảm bảo, nếu giao cháu A cho chị L nuôi dưỡng sẽ gây sự xáo trộn, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu. Vã lại, theo Án lệ số 54/2022/AL ngày 14/10/2022 về xác định quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong trường hợp người mẹ không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Án lệ số 54/2022/AL ngày 14/10/2022, tiếp tục giao cháu Nguyễn Khánh A, sinh ngày 25/3/2022 cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; về cấp dưỡng nuôi con do anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết; Chị L được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trỡ.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Theo lời khai của anh N thì anh và chị L không có tài sản chung, không nợ ai hoặc ai nợ anh, chị; anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí xét xử hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Văn N phải chịu theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35 và Điều 39 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Án lệ số 54/2022/AL ngày 14/10/2022 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07 tháng 9 năm 2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA14 tháng 10 năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ vào Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N, cho anh N được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
- Về con chung: tiếp tục giao cháu Nguyễn Khánh A, sinh ngày 25/3/2022 cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét, giải quyết; Chị Nguyễn Thị L được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trỡ.
- Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc anh Nguyễn Văn N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), anh N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006899 ngày 06 tháng 6 năm 2024 được chuyển thu án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long. Chị Nguyễn Thị L không phải nộp án phí.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6, quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a và 7b; tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm dân sự công khai vắng mặt các đương sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Quách Thanh Tồn |
Quách Thanh Tồn |
Bản án số 156/2024/HNGĐ -ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 156/2024/HNGĐ -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nam yêu cầu ly hôn với chị Lẹ
