Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HOÀI NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 156/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19-4-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Văn Siêng
  2. Ông Võ Văn Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Tuyền - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 516/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 315/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1977
  2. Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.

  3. Bị đơn: Chị Kiệt Thị T, sinh năm 1985
  4. Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.

    (Anh A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị T vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 20 tháng 6 năm 2023 và lời khai của nguyên đơn anh Nguyễn Văn A trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:

- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn A và chị Kiệt Thị T tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, (nay là phường T, thị xã H) tỉnh Bình Định vào ngày 08 tháng 8 năm 2005. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian. Khoảng hơn một năm nay, thường phát sinh mâu thuẫn, cãi vã. Hai vợ chồng đã sống ly thân. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên anh A yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.

- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Kiệt Gia H, sinh năm 2006 và Nguyễn Kiệt Gia H1, sinh năm 2007. Ly hôn, anh A yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn: Không có.

* Bị đơn chị Kiệt Thị T trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án, yêu cầu chị T có mặt tại Tòa để làm việc nhưng chị T vẫn vắng mặt, không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70; 72 và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo quy định tại các Điều 91; 96 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Do vậy, Toà án xét xử vắng mặt chị T theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án phù hợp với quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt lần hai tại phiên tòa không có lý do nên Tòa tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

+ Về hôn nhân: Căn cứ các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn A được ly hôn với chị Kiệt Thị T.

+ Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Kiệt Gia H, sinh năm 2006 và Nguyễn Kiệt Gia H1, sinh năm 2007 cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh A, không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Anh Nguyễn Văn A phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Anh Nguyễn Văn A yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn giải quyết ly hôn, giải quyết về con chung với chị Kiệt Thị T, đây là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn chị Kiệt Thị T có hộ khẩu thường trú tại khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.

[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Kiệt Thị T nhưng chị T vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tiến hành xét xử vắng mặt chị T.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn A và chị Kiệt Thị T tự nguyện tìm hiểu nhau và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 08 tháng 8 năm 2005 (nay là Ủy ban nhân dân phường T, thị xã H) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 100; căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của anh A và chị T được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy, giữa anh A và chị T trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn nên vợ chồng anh A không còn sống chung với nhau hơn một năm nay. Nay anh A kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị T vắng mặt không có lý do, không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình. Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa anh A và chị T đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc anh A yêu cầu được ly hôn với chị T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.2] Về yêu cầu nuôi con chung: Anh A và chị T có 02 con chung tên Nguyễn Kiệt Gia H, sinh năm 2006 và Nguyễn Kiệt Gia H1, sinh năm 2007, hiện đang sống chung với anh A. Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu H, cháu H1 đang sống với anh A, hai cháu đều có nguyện vọng được ở với bố, vì vậy, giao cháu H, H1 cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng theo như yêu cầu của anh A là phù hợp. Anh A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn: Anh A trình bày không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn A phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Văn A được ly hôn với chị Kiệt Thị T.
  2. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Kiệt Gia H, sinh năm 2006 và Nguyễn Kiệt Gia H1, sinh năm 2007 cho anh Nguyễn Văn A trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận tự nguyện của anh A, không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

  4. Về chia tài sản và nợ chung khi ly hôn: Không có.
  1. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Anh Nguyễn Văn A phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) đồng sung công quỹ Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm anh A đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005981 ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.
  2. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Hoài Nhơn;
  • - UBND phường Tam Quan Bắc;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 156/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger