Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 156/2024/HS-ST

Ngày 18-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Văn Tòng
  • Ông Bùi Quốc Kiên

-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lâm Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 139/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐXXST-HS ngày 08/11/2024 đối với bị cáo:

1. Lê Công Đ - Sinh năm 1996

Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa;

Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Công H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T.

Tiền án:

  • Ngày 25/10/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 306/2019/HSST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/3/2021);
  • Ngày 28/4/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 156/2022/HSST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/12/2023).

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 04/7/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 50/2012/HSST ngày 04/7/2012 ;
  • Ngày 14/6/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt với bản án số 50/2012/HSST ngày 04/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương là 24 tháng tù theo bản án số 43/2013/HSST ngày 14/6/2013;
  • Ngày 23/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt với bản án số 43 ngày 14/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương là 39 tháng tù theo bản án số 79/2013/HSST ngày 23/9/2013;
  • Ngày 30/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xử phạt 26 tháng về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt với bản án số 79 ngày 23/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương là 65 tháng tù theo bản án số 163/2014/HSST ngày 30/9/2014;
  • Ngày 27/8/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S khởi tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/7/2024 đến ngày 09/7/2024 chuyển tạm giam đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Trần Ngọc A - Sinh năm 2000

Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa;

Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Ngọc Q và bà Trần Thị H1.

Tiền án:

  • Ngày 07/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 31/2020/HSST.
  • Ngày 09/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương xử phạt 42 tháng tù về tội cướp giật tài sản theo bản án số 34/2020/HSST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/5/2023).

Tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 11/12/2019, bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/7/2024 đến ngày 09/7/2024 chuyển tạm giam đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Anh Trần Văn Q1 - Sinh năm 2004 (có mặt)

Địa chỉ: TDP N, phường H, thị xã N, Thanh Hóa.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Nguyễn Đức D - Sinh năm 1987 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

2/ Bà Trần Thị H1 - Sinh năm 1976 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện Q, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào chiều ngày 04/7/2024, Lê Công Đ, sinh năm 1996, trú tại thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, nảy sinh ý định đi vào khu vực thị xã N để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Thực hiện ý định trên, Đ đã gọi điện cho Trần Ngọc A, sinh năm 2000, trú tại thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa nhờ Trần Ngọc A chở vào N, nói dối là đi thu tiền nợ, Trần Ngọc A đồng ý. Đến tối cùng ngày, Trần Ngọc A điều khiển xe mô tô BKS 36C2 - 408.77 chở Đ đi vào thị xã N, trên đường đi để tránh bị phát hiện khi thực hiện hành vi phạm tội nên Đ bảo Ngọc A dừng xe, rồi lấy trong người ra cuộn băng dính màu đen dán che toàn bộ biển số xe. Tuy nhiên, do thấy xấu nên Ngọc A đã bóc băng dính ra rồi tiếp tục điều khiển xe đi vào thị xã N. Khi vào địa phận phường H, thị xã N, Đ chỉ đường cho Ngọc A đi lòng vòng vào các ngõ, mục đích để Đ tìm cơ hội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Cả hai đi đến Cửa hàng Đ1 thuộc tổ dân phố N, phường H, thị xã N, Đ bảo A dừng xe và nói: “Đứng ngoài nổ máy chờ anh, anh vào lấy nợ, lỡ có xảy ra va chạm chi thì chạy”. Sau đó, Đ đi vào trong cửa hàng gặp anh Trần Văn Q1, Chủ cửa hàng, Đ giả vờ hỏi mua 02 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax để tìm cơ hội chiếm đoạt. Anh Q1 tưởng thật nên lấy điện thoại đưa cho Đ một chiếc màu xanh và một chiếc màu vàng. Sau khi cầm được điện thoại, thấy anh Q1 lúc này đang đứng bên trong quầy nên Đ đã cầm 02 chiếc điện thoại bỏ chạy ra ngoài nơi Anh đang chờ sẵn, Đ nói với Trần Ngọc A “Phóng nhanh”. Nghe vậy, Ngọc A điều khiển xe mô tô phóng nhanh về hướng thị xã N đi Nghệ An. Trên đường đi, Đ nói với Ngọc A “Anh đã giật được một chiếc điện thoại, chạy nhanh đi”, lúc này A mới biết là Đ vừa cướp giật điện thoại trong cửa hàng. Sau đó, Ngọc A chở Đ đến cửa hàng điện thoại Dũng H2 ở thôn D, xã Q, huyện Q, tại đây Đ bán chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh cho anh Nguyễn Đức D, chủ cửa hàng với giá 9.300.000 đồng, Đ đưa cho Ngọc A 2.700.000 đồng, số tiền này Ngọc A đã tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 05/7/2024, Đ tiếp tục mang chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng đến bán cho anh D với giá 9.700.000 đồng, số tiền bán điện thoại lần này Đ cũng đã tiêu xài cá nhân hết.

Về phần anh Q1, bất ngờ thấy Đ cầm 02 chiếc điện thoại bỏ chạy, thì anh Q1 đuổi theo đồng thời hô hoán “Trộm, cướp” nhiều lần nhưng không kịp, sau đó đã trình báo vụ việc đến Công an phường H để giải quyết theo quy định.

Căn cứ vào các tài liệu xác minh, ngày 06/7/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N triệu tập Trần Ngọc A và Lê Công Đ đến làm việc, tại đây cả hai đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và giao nộp điện thoại di động để phục vụ công tác điều tra.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTS ngày 09/7/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã N kết luận:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, dung lượng 128GB, có số Imei 1: 357771751582599, số Imei 2: 357771751579256 sử dụng năm 2022 có giá trị 9.700.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, dung lượng 128GB, có số Imei 1: 353167665870317, số Imei 2: 353167665855938, sử dụng năm 2022 có giá trị 9.300.000 đồng;

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 07 tệp video được lưu trữ trong 03 USB có chữ Kingston ghi lại hình ảnh đối tượng Lê Công Đ thực hiện hành vi cướp giật tài sản và tiêu thụ tài sản phạm tội được trích xuất từ Camera của gia đình anh Trần Văn Q1 và anh Nguyễn Đức D. Tại bản kết luận giám định số 2995/KL-KTHS ngày 14/8/2024, phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 07 tệp video của 03 USB gửi giám định (BL 272).

Đối với anh Nguyễn Đức D, quá trình điều tra xác định, khi mua 02 chiếc điện thoại di động Lê Công Đ bán, anh D không biết đây là tài sản do Đ phạm tội mà có nên anh D không phạm tội.

Xác minh nguồn gốc chiếc xe mô tô Honda Winner X, BKS 36C2 - 408.77 mà Trần Ngọc A sử dụng chở Đ bỏ chạy sau khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, xác định chiếc xe này là của bà Trần Thị H1 là mẹ đẻ của A, quá trình điều tra xác định bà H1 không biết Ngọc A sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên không có cơ sở xử lý hình sự đối với bà H1.

Xác minh về nhân thân các bị cáo, xác định các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sở hữu, trong đó bị cáo Lê Công Đ còn là đối tượng tái phạm, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng của vụ án:

Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng, phương tiện sau:

  • Thu giữ của Lê Công Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16k, màu đen, kiểu máy CPH2349, có Imei 1: 863348054935696, Imei 2: 863348054935688, kèm theo 02 sim điện thoại ghi 898404800004100218 và 8984048000933625601.
  • Thu giữ của Trần Ngọc A: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, số máy A2161, có Imei 1: 353887101486879, Imei 2: 353887106597365, kèm theo 02 sim điện thoại ghi 8984048000932941805. Các vật chứng nêu trên được bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Riêng đối với chiếc xe xe mô tô BKS 36C2-408.77, nhãn hiệu Honda Winner X màu xám đen, số máy KC34E5061036, số khung RLHKC 4416NY046483, quá trình điều tra xác định bị cáo Ngọc A điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm, nên cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã N đã chuyển chiếc xe đến đội cảnh sát giao thông, trật tự - Công an thị xã N để đề xuất ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.

  • Thu giữ của anh Nguyễn Đức D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, dung lượng 128GB, số Imei: 35777175151582599, số Imei 2: 357771751579256 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, dung lượng 128GB, số Imei: 353167665870317, số Imei 2: 353167665855938. Sau khi tiến hành xác minh nguồn gốc và định giá tài sản, xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại 02 chiếc điện thoại trên cho Trần Văn Q1 là chủ sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Trần Văn Q1 đã được nhận lại 02 chiếc điện thoại di động bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bị cáo Lê Công Đ bồi thường thêm khoản nào khác. Anh Nguyễn Đức D yêu cầu Lê Công Đ và Trần Ngọc A hoàn trả lại số tiền 19.000.000 đồng, là số tiền anh D đã bỏ ra để mua 02 chiếc điện thoại nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 161/CT-VKSNS ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Lê Công Đ về tội “Cướp giật tài sản”; truy tố bị cáo Trần Ngọc A về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Lê Công Đ. Xử phạt bị cáo Lê Công Đ từ 4 năm đến 04 năm 06 tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2024.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Trần Ngọc A. Xử phạt Trần Ngọc A từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 02 chiếc điện thoại Oppo A16k và Iphone 11 Promax của bị cáo Trần Ngọc A và bị cáo Lê Công Đ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận:

Xuất phát từ động cơ vụ lợi vào tối ngày 04/7/2024, tại Cửa hàng điện thoại di động Hùng Loan của anh Trần Văn Q1 ở tổ dân phố N, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Lê Công Đ đã thực hiện hành vi cướp giật 02 chiếc điện thoại di dộng gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, dung lượng 128GB và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, dung lượng 128GB của anh Q1 với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 19.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, Đ đã cùng với Trần Ngọc A đến cửa hàng điện thoại của anh Nguyễn Đức D ở thôn D, xã Q, huyện Q bán 01 chiếc điện thoại di động vừa cướp giật được cho anh D được 9.300.000 đồng, Đ cho Ngọc A 2.700.000 đồng, số tiền này Ngọc A đã tiêu xài cá nhân hết. Chiếc điện thoại còn lại, Đ sau đó cũng bán cho anh D được 9.700.000 đồng, số tiền bán điện thoại Đ cũng tiêu xài cá nhân hết.

Trong vụ án này, Lê Công Đ phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Đối với Trần Ngọc A, ban đầu Ngọc A không biết mục đích của Đ vào thị xã N để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, mà chỉ sau khi Đ thực hiện xong hành vi cướp giật tài sản, trên đường về Đ mới nói cho Ngọc A biết nên Anh không đồng phạm với Đ về hành vi cướp giật tài sản. Tuy nhiên, sau khi biết thông tin Đ vừa cướp giật điện thoại, Ngọc A vẫn giúp sức chở Đ đi bán chiếc điện thoại do phạm tội mà có và được hưởng lợi số tiền 2.700.000 đồng, vì vậy Ngọc A phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, kết quả tranh tụng tại phiên toà và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lê Công Đ phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Ngọc A phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà hoàn toàn có căn cứ pháp luật.

[3] Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm:

Bị cáo Lê Công Đ lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, công khai giật lấy tài sản đang trong sự quản lý của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của bị cáo là táo tợn, liều lĩnh, coi thường pháp luật. Bị cáo Trần Ngọc A mặc dù biết tài sản là do Đ phạm tội mà có nhưng vẫn giúp sức chở Đ đi tiêu thụ. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Ngọc A có nhân thân xấu, từng bị tòa án xét xử về các tội trộm cắp tài sản và cướp giật tài sản, mới chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích lại vi phạm, nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Căn cứ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt tù bị cáo tương xứng với tính chất mức độ phạm tội để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên nên hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Trần Văn Q1 đã nhận được 02 chiếc điện thoại là tài sản bị Đ chiếm đoạt, không có yêu cầu gì khác nên hội đồng xét xử không xem xét. Còn anh Nguyễn Đức D là người mua 02 chiếc điện thoại với giá 19.000.000đ, hiện các bị cáo chưa hoàn trả lại số tiền này cho anh D. Anh Dũng yêu cầu các bị cáo phải trả lại cho anh số tiền 19.000.000đ.

[6] Về vật chứng: 02 chiếc điện thoại của Trần Ngọc A và Lê Công Đ là công cụ phương tiện để hai bị cáo liên lạc với nhau và sử dụng để chuyển khoản chia nhau số tiền có được do bán tài sản chiếm đoạt được. Vì vậy cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.

[7] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về bồi thường dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Lê Công Đ.

Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Trần Ngọc A.

Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Điều 6; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Mục 1 phần I Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị Quyết.

Tuyên bố:

Bị cáo Lê Công Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Bị cáo Trần Ngọc A phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt:

Bị cáo Lê Công Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2024.

Bị cáo Trần Ngọc A 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2024.

Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Trần Ngọc A và Lê Công Đ phải liên đới bồi thường số tiền 19.000.000đ (mười chín triệu đồng) cho anh Nguyễn Đức D. Cụ thể: Bị cáo Lê Công Đ phải bồi thường 16.300.000đ (mười sáu triệu ba trăm nghìn đồng); bị cáo Trần Ngọc A phải bồi thường 2.700.000đ (hai triệu bảy trăm nghìn đồng).

Bị hại là anh Trần Văn Q1 đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Về vật chứng:

Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16k, màu đen, kiểu máy CPH2349, có Imei 1: 863348054935696, Imei 2: 863348054935688, kèm theo 02 sim điện thoại ghi 898404800004100218 và 8984048000933625601. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, số máy A2161, có Imei 1: 353887101486879, Imei 2: 353887106597365, kèm theo 02 sim điện thoại ghi 8984048000932941805. Tất cả đựng trong 01 phong bì được dán kín niêm phong bởi chữ ký, chữ viết của những người tham gia niêm phong và các hình dấu của phòng K công an tỉnh T.

Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự Thị xã Nghi Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa và Chi cục thi hành án dân sự Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (Theo phiếu nhập kho số NK2025/17 ngày 13/11/2024).

Về án phí: Buộc bị cáo Lê Công Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 815.000đ (tám trăm mười lăm nghìn đồng) án phí dân sự. Buộc bị cáo Trần Ngọc A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Lê Công Đ, Trần Ngọc A và người bị hại anh Trần Văn Q1 có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Đức D và bà Trần Thị H1 có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Trại tạm giam công an T.Thanh Hoá;
  • - Nhà tạm giữ công an TX Nghi Sơn;
  • - Chi cục THADS TX Nghi Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nv liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Huyền

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HOÁ

Số: 56/2024/TB-TA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Nghi Sơn, ngày 25 tháng 12 năm 2024

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

- Căn cứ các Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 156/2024/HSST ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa có lỗi nhầm lẫn về đánh máy cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

1/ Về nội dung tại trang 10 dòng 05 từ trên xuống của Bản án đã ghi: “Bị cáo Lê Công Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2024."

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Bị cáo Lê Công Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2024.”

2/ Về nội dung tại trang 10 dòng 06, 07 từ trên xuống của Bản án đã ghi: “Bị cáo Trần Ngọc A 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2024."

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Bị cáo Trần Ngọc A 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2024.”

3/ Về nội dung tại trang 02 dòng 08, 09 từ dưới lên của Bản án đã ghi: “Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 09/7/2024 đến nay”

Nay sửa chữa, bổ sung như sau: “Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/7/2024 đến ngày 09/7/2024 chuyển tạm giam đến nay”.

4/ Về nội dung tại trang 03 dòng 10, 11 từ trên xuống của Bản án đã ghi: “Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 09/7/2024”

Nay sửa chữa, bổ sung như sau: “Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/7/2024 đến ngày 09/7/2024 chuyển tạm giam đến nay”.

5/ Về nội dung tại trang 06 dòng 02 và dòng 05 từ dưới lên của Bản án đã ghi: “Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2024”

Nay sửa chữa, bổ sung như sau: “Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2024"

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - Công an thị xã Nghi Sơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA về hình sự

  • Số bản án: 156/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Lê Công Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo Trần Ngọc A phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Xử phạt: Bị cáo Lê Công Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2024. Bị cáo Trần Ngọc A 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger