TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 156/2023/HS-ST Ngày: 17/11/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Hải
2. Ông Long Văn Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trường Long - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 143/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Thị T; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 21 tháng 7 năm 1966 tại: Q, Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú: Khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; Nơi ở hiện tại: tổ G, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Họ và tên cha: Dương Đức B (đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị C - sinh năm 1932 (trú tại: tổ G, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); Anh chị em ruột: Bị cáo là con thứ 4 trong gia đình có 08 anh chị em; Chồng: chồng thứ nhất Vũ Văn T1 (đã ly hôn), chồng thứ hai Lăng Hùng S (đã chết); con: có 05 con.
Tiền sự: không; Tiền án: không.
Nhân thân: Ngày 22/11/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 10 năm tù về tội “Lưu hành tiền giả”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 26/6/2023 đến nay; Có mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Ngọc S1 - sinh năm 1979; Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
2. Ông Đàm Quốc K - sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11h30' ngày 26/6/2023 tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố C làm nhiệm vụ tại khu vực tổ G, phường T, thành phố C phát hiện và bắt quả tang Dương Thị T (sinh ngày 21/7/1966; trú tại: tổ G, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 02 (hai) gói nhỏ bọc bằng nilon trong suốt, bên trong mỗi gói có 01 (một) lớp giấy bạc màu trắng bên trong đều có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột có khối lượng 0,19g (không phẩy mười chín gam) thu giữ trong lòng bàn tay phải của T; 01 (một) điện thoại di động cũ màu đen, mặt sau có chữ iphone, số imei: 355349082173396, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Hồi 12h50' cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại tổ G, phường T, thành phố C. Quá trình khám xét phát hiện và thu giữ: 01 (một) gói nilon trong suốt có khóa vuốt bên trong có 26 (hai mươi sáu) gói nhỏ được bọc bằng nilon trong suốt, bên trong mỗi gói có 01 (một) lớp giấy bạc màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột có tổng khối lượng 2,41g (hai phẩy bốn mươi mốt gam) của T lấy ở chân cầu thang nhà của T2 ra tự giác giao nộp.
Ngày 27/6/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 230 đối với vật chứng vụ án. Tại bản kết luận giám định số 338 ngày 03/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: "02 (hai) mẫu chất bột màu trắng bên trong 02 (hai) phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại: Heroine".
Quá trình điều tra xác định được như sau: Ngày 20/6/2023, Dương Thị T một mình từ nhà tại huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn đi chợ Đ tìm mua Heroine với mục đích để bán lại kiếm lời. Tại đây T gặp một người đàn ông lạ mặt trông giống người nghiện nên hỏi mua 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) Heroine. Người đàn ông đồng ý, nhận tiền và đưa cho T 01 (một) bao thuốc lá, bên trong là 03 (ba) cục H bọc trong túi nilon. Sau khi mua được ma túy, T đi xe khách từ Lạng Sơn đến nhà em trai là Dương Đức T3 (sinh ngày 30/4/1975) tại tổ G, phường T, thành phố C và ở lại đó. Ngày 21/6/2023, T đã chia số Heroine mua được ngày 20/6/2023 ở Lạng Sơn ra thành 29 (hai mươi chín) gói nhỏ gói bằng giấy bạc màu trắng, bên ngoài bọc một lớp nilon màu trắng và cất giấu tại chân cầu thang nhà của T3. với mục đích bán lại cho các đối tượng nghiện kiếm lời. Đến khoảng 16h00' ngày 21/6/2023, khi T đang ở nhà của T3 thì Nguyễn Ngọc S1 (sinh ngày 20/10/1979; trú tại: tổ A, phường S, thành phố C) đến gặp T hỏi mua 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) Heroine; T đồng ý, nhận tiền và đưa cho S1 01 (một) gói Heroine. Đến khoảng 11h15' ngày 26/6/2023, Đàm Quốc K (sinh ngày 02/9/1990; trú tại: tổ A, phường T, thành phố C) gọi điện thoại cho T hỏi mua 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) Heroine. T đồng ý và hẹn K đến chỗ cây ATM của A đối diện Ủy ban nhân dân phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng để giao dịch. Sau đó T mang theo 02 (hai) gói Heroine đi đến chỗ hẹn, trên đường đi T bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.
Hành vi của Dương Thị T đã bị cơ quan công an lập hồ sơ, đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản Cáo trạng số 146/CT-VKSTP ngày 18/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Dương Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Dương Thị T thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với Kết luận giám định số 338 ngày 03/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh C và khối lượng ma túy bị thu giữ, bị cáo thừa nhận đã bán ma túy cho Nguyễn Ngọc S1 200.000 đồng, không thừa nhận việc trao đổi mua bán ma túy với Đàm Quốc K. Bị cáo khẳng định khi K gọi điện hỏi mua ma túy, bị cáo không nói gì mà tắt máy, không nói đồng ý bán ma túy cho K, sau đó bị cáo đi chợ mua rau và bị công an bắt quả tang do bị cáo mang theo 02 gói ma túy theo người. Đối với chiếc điện thoại bị thu giữ, bị cáo không yêu cầu trả lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Dương Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Dương Thị T từ 3 năm 6 tháng đến 04 năm 06 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: "Số 338/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Dương Thị T, bắt ngày 26/6/2023"; 01 (một) phong bì niêm phong ghi "Tang vật cân quả tang Dương Thị T"; 01 một) phong bì niêm phong ghi "Tang vật cân khám xét Dương Thị T";
Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ Iphone.
Buộc bị cáo nộp lại số tiền 200.000 đồng do phạm tội mà có để sung công quỹ nhà nước.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của Dương Thị T và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 20/6/2023 Dương Thị T một mình từ nhà tại thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đến chợ Đ tìm mua 3.500.000₫ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) Heroine với mục đích chia nhỏ ra bán cho các đối tượng nghiện để kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, T đến nhà em trai là Dương Đức T3 tại tổ G, phường T, thành phố C để ở và chia số ma túy mua được ra thành 29 (hai mươi chín) gói nhỏ. Khoảng 16h00' ngày 21/6/2023, T bán 01 (một) gói Heroine cho Nguyễn Ngọc S1 với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng); Khoảng 11h15' ngày 26/6/2023, T mang 02 (hai) gói Heroine có khối lượng 0,19g (không phẩy một chín gam) theo người đi trên đường thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của T thu giữ 26 (hai mươi sáu) gói Heroine còn lại có khối lượng 2,41g (hai phẩy bốn một gam). Do vậy Dương Thị T phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng 2,6g (hai phẩy sáu gam) Heroine.
Hành vi của bị cáo Dương Thị T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có 01 tiền án, mặc dù đã được xóa án tích nhưng không được coi là người có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo liên tục thay đổi lời khai nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo”. Bị cáo có mẹ là bà Hoàng Thị C là người có công với cách mạng nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Về hình phạt chính:
Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù bị cáo đã được giáo dục cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, làm gương cho những người có ý định phạm tội.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…….”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy bị thu giữ là đồ vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với điện thoại di động cũ màu đen, mặt sau có chữ iphone, số imei: 355349082173396, điện thoại cũ đã qua sử dụng bị cáo không đề nghị trả lại nên cần tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước.
Đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Nguyễn Ngọc S1 do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo nộp lại số tiền này để sung công quỹ nhà nước.
[7] Về các vấn đề khác;
Về nguồn gốc số ma túy, T khai nhận mua với một người đàn ông lạ mặt không quen biết tại khu vực chợ Đ, tỉnh Lạng Sơn, việc mua bán không ai biết và chứng kiến nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, mở rộng điều tra vụ án.
Đối với Nguyễn Ngọc S1 có hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo.
Quá trình điều tra Đàm Quốc K khai được gọi điện hỏi mua ma túy với bị cáo T và hẹn bị cáo T tại cây ATM của A đối diện Ủy ban nhân dân phường T để giao dịch nhưng bị cáo T không thừa nhận, việc trao đổi mua bán ma túy giữa K và bị cáo T không ai biết và chứng kiến, do đó không có căn cứ để xử lý bị cáo T về hành vi bán ma túy cho K.
[8] Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị T tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Bị cáo Dương Thị T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 26/6/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:
- Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để sung công quỹ nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: "Số 338/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Dương Thị T, bắt ngày 26/6/2023” (Kèm theo Kết luận giám định số 338/KL-KTHS ngày 03/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh C);
- + 01 (một) phong bì niêm phong ghi “Tang vật cân quả tang Dương Thị T";
- + 01 một) phong bì niêm phong ghi “Tang vật cân khám xét Dương Thị T".
- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ Iphone, có só IMEI (Theo Quyết định chuyển vật chứng): 355349082173396, điện thoại cũ đã qua sử dụng, do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.
Vật chứng trên hiện nay đang lưu giữ tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 05 ngày 25/10/2023.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử buộc bị cáo Dương Thị T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đinh Thị Hoài Phương |
Bản án số 156/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 156/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy - Dương Thị T
