|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 157/2023/HS-ST
Ngày 16-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Khoa
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích Lý
Bà Nguyễn Thị Mai
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Văn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến (điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an thành phố H) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 158/2023/TLST- HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 652/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Lò Văn Đ, sinh ngày 09 tháng 4 năm 2001 tại Lai Châu; nơi cư trú: Bản T, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T (đã chết) và bà Lò Thị É; có vợ là Lò Thị K (chưa đăng ký kết hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 12/7/2023, tạm giam ngày 20/7/2023; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thu T1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 12/7/2023, Đ mượn xe mô tô biển kiểm soát 34P8-5368 của chị Vi Thị T2 (sinh năm 1987, trú tại: bản E, xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hóa) cùng chỗ làm, để đi đến khu vực chắn tàu T, quận L, Hải Phòng tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, Đ gặp một nam giới (không rõ lai lịch địa chỉ) hỏi có mua ma túy không. Đ đồng ý mua và để xe mô tô của mình tại ngõ D T lên xe nam giới chở đi. Nam giới chở Đ đến khu vực ngõ I L thì dừng lại bảo Đ đứng đợi. Đượi đưa cho nam giới 200.000 đồng, anh ta nhận tiền rồi một mình đi sâu vào trong ngõ. Khoảng 01 phút sau nam giới đi ra đưa cho Đ một gói giấy bạc chứa H và bảo Đ đi ra đầu ngõ đợi anh ta chở về chỗ để xe mô tô lúc trước. Khoảng 09 giờ 50 phút cùng ngày, Đ cầm gói ma túy mở ra kiểm tra, rồi vo lại cầm tay phải tiếp tục đi bộ ra đầu ngõ I L thì bị tổ công tác Công an phường L, quận L kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Đ đã ném 01 gói giấy bạc nhỏ từ bàn tay phải xuống đất cách vị trí đứng khoảng 02m. Tổ công tác đã thu giữ gói giấy bạc trên phát hiện bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy. Tổ công tác đã đưa Đ cùng vật chứng về trụ sở Công an phường L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Đến 11 giờ 20 phút ngày 12/7/2023, Cơ quan Công an đã thu giữ tại khu vực cửa nhà số B T, phường C, quận L, xe mô tô biển kiểm soát 34P8-5368.
Tại bản Kết luận giám định số 607/KL-KTHS(MT) ngày 17/7/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận đối với mẫu chất bột thu giữ của Lò Văn Đ: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,25 gam, loại Heroine.
Đối với người nam giới bán ma tuý cho Đ, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận L xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 34P8-5368 thu giữ của Đ. Xác minh xe trên chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1988, trú tại: số I Đ, Đ, L, Hải Phòng. Ngày 12/7/2023, chị Y cho chị Vi Thị T2 mượn xe, sau đó chị T2 cho Đ mượn để đi lại. Chị Y và chị T2 không biết Đ dùng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L ra Quyết định trả lại xe cho chị Y.
Bản cáo trạng số 163/CT-VKSLC ngày 24/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Lò Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong chứa số ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định.
Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 0/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo thuộc dân tộc thiểu số ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Người bào chữa cho bị cáo (Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Thị Thu T1) trình bày: Hoàn toàn nhất trí về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như các điểm, khoản, điều luật áp dụng đối với bị cáo mà Viện Kiểm sát đã đề nghị. Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị.
- Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố. Bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Đ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 12/7/2023, tại khu vực đầu ngõ I L, quận L, Lò Văn Đ có hành vi cất giấu trái phép 0,25 gam ma tuý loại Heroine để sử dụng cho bản thân, bị Tổ công tác Công an phường L, quận L bắt quả tang. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép ma túy là loại Heroin có khối lượng 0,25 gam; bị cáo phạm tội nghiêm trọng, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy từ tháng 8 năm 2022 nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[8] Về xử lý vật chứng: Heroine là ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và vỏ bao gói của mẫu vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[9] Về án phí: Bị cáo Đ thuộc dân tộc thiểu số ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn Đ 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12/7/2023.
- Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong chứa số ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định số 607MT/PC09.
(Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 24/10/2023 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Duy Khoa |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Mai Nguyễn Thị Bích Lý |
Bùi Duy Khoa |
Bản án số 157/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 157/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Đ tàng trữ trái phép chất ma túy
