Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2024/HS-ST

Ngày: 16-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHÒ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Lương
  2. Ông Lê Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 141/2024/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Bùi Quốc T - sinh năm 1976 tại Hà Tĩnh; nơi đăng ký thường trú: 52/45/2 N, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 52/45/2 N, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Xuân T1, sinh năm 1949 và con bà Võ Thị T2, sinh năm 1950; vợ: Nguyễn Thị Diệu H, sinh năm 1978; con: Không có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 18/8/2023 đến nay.

  1. Bùi Xuân T3 - sinh năm 1986 tại Hà Tĩnh; nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: 6 T, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân T1, sinh năm 1949 và con bà Võ Thị T2, sinh năm 1950; vợ: Nguyễn Thị Linh C, sinh năm 1988; con: có 02 con sinh năm 2017 và 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 18/8/2023 đến nay.

  1. Sái Đức T4 - sinh năm 1981 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: 7 Ú, phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 7 Ú, phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ điện; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sái Đức T5, sinh năm 1956 (đã chết) và bà Trần Thị T6, sinh năm 1956; vợ: Bùi Thị Kha L, sinh năm 1981; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 07/6/2012, bị Công an quận T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “gây tổn hại sức khỏe cho người khác”, phạt tiền 500.000 đồng, đã đóng phạt.

Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 18/8/2023 đến ngày 29/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

  1. Trần Thanh S - sinh năm 1986 tại Quảng Nam; nơi đăng ký thường trú: Khối phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: 4 T, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H1, sinh năm 1961 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; vợ: Võ Bích P (chung sống nhưng không đăng ký kết hôn) con: Có 01 con sinh năm 2012;

Nhân thân:

  • Ngày 12/02/2004 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 154/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 15/01/2005.
  • Ngày 13/6/2007 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 67/2007/HSST ngày 13/6/2007, chấp hành xong án phạt tù ngày 01/7/2009.

Tiền sự: Không.

Tiền án:

  • Ngày 24/9/2012 bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 108/2012/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 12/01/2017.

Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 18/8/2023 đến nay.

  1. Nguyễn Kim Q - sinh năm 1991 tại Bình Thuận; nơi đăng ký thường trú: Tổ C, thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T7, sinh năm 1967 và con bà Phan Thị T8, sinh năm 1968; vợ, con: không có;

Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 18/8/2023 đến nay.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

  1. Bị cáo Bùi Quốc T, sinh năm 1976; nơi đăng ký thường trú: 52/45/2 N, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (bị hại liên quan đến hành vi “Cố ý gây thương tích” của các bị cáo Trần Thanh S và Nguyễn Kim Q).
  2. Bị cáo Bùi Xuân T3, sinh năm 1986; nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: 6 T, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (bị hại liên quan đến hành vi “Cố ý gây thương tích” của bị cáo Nguyễn Kim Q).
  3. Bị cáo Trần Thanh S, sinh năm 1986; nơi đăng ký thường trú: Khối phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: 4 T, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (bị hại liên quan đến hành vi “Cố ý gây thương tích” của bị cáo Bùi Xuân T3 và Bùi Quốc T).
  4. Bị cáo Nguyễn Kim Q, sinh năm 1991; nơi đăng ký thường trú: tổ C, thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (bị hại liên quan đến hành vi “Cố ý gây thương tích” của bị cáo Bùi Xuân T3).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Bùi Thị Kha L, sinh năm 1981; địa chỉ: 7 Ú, phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
  2. Bà Võ Bích P, sinh năm 1986; địa chỉ: 4 T, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
  3. Ông Nguyễn Ngọc T9, sinh năm 1967; địa chỉ: A H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu tháng 8/2023, Sái Đức T10 cho Bùi Quốc T vay số tiền 12.000.000 đồng. Do nhiều lần đòi tiền nhưng T không trả, tối ngày 12/8/2023, T10 gọi điện thoại cho T chửi bới và tiếp tục đòi tiền. Sau đó, T10 gọi cho Trần Thanh S để cùng đến nhà T tại địa chỉ số E N, phường A, quận T đòi nợ, S đồng ý. Cùng lúc, Hà Hữu D điều khiển xe máy chở Nguyễn Kim Q đến nhà của S lấy đồ cá nhân, S rủ Q đi cùng, Q đồng ý, D không được rủ nhưng vẫn chở Q đi cùng.

Quá trình điều tra xác định diễn biến vụ việc như sau:

Giai đoạn 1: Vào thời điểm 23 giờ 20 phút, T chạy xe taxi về tới đầu hẻm E N, phường A, quận T thì có nhìn thấy nhóm của T10 đứng chờ sẵn trên 3 xe gắn máy, T điều khiển xe về tới gần trước hẻm E N thì tắt máy xe rồi đi bộ vào nhà tại địa chỉ 5 N. Trong lúc chờ mở cửa thì T thấy T10, S, Q, D đang đứng ở đầu hẻm E N, bà H mở cửa, T bước vào trong nhà với lấy cây mã tấu tự chế kiểu kiếm Nhật (có bao đựng tự chế màu trắng, do một người quen tặng, cho cách đó vài tháng để trưng trong nhà), rút lưỡi cây mã tấu ra khỏi bao, bước ra bên ngoài giơ cây mã tấu tự chế lao về phía nhóm của T10 mục đích đe dọa không để nhóm của T10 tấn công mình trước. T10, Q, S, D thấy T10 cầm mã tấu lao về phía mình thì lùi, tản ra, quan sát xung quanh có nhiều đồ vật có thể dùng được, S và Quốc nhặt, bê lên ném về phía T, D thấy 3 người Tân, Q, S ném đồ vật thì đứng quan sát, không tham gia.

Giai đoạn 2: T bị S, Quốc ném đồ vật về phía mình nên cầm mã tấu chém loạn xạ để đồ vật không ném trúng vào người mình đồng thời bước lùi về hướng ra đầu hẻm E N, phường A, quận T, khi đến trước số E N, T10 và Q thấy có mấy cây gỗ ai đó để trước cửa nên cả 02 đi lại mỗi người cầm 01 cây, T bước lùi và quơ cây mã tấu tự chế chém các đồ, vật do S ném tới, S lao tới định tước cây mã tấu trên tay T thì bị T chém trúng 01 nhát ở mặt ngoài cánh tay trái (phù hợp với vị trí sẹo kích thước trung bình vùng cánh tay trái: 02% (hai phần trăm), Q cầm cây lao tới áp sát quơ trúng vào mặt T 01 cái làm T bị choáng té ngồi xuống đất, T10 cầm cây gỗ ghì tay cầm mã tấu xuống đất, S chồm người tới tước được cây mã tấu trên tay của T, Q thấy vậy thì cầm cây gỗ đánh T thêm 01 cái vào phần lưng và D lúc này đứng phía sau T10, Quốc cách chỗ T 02 mét quan sát thấy 03 người là T10, S, Q khống chế lấy được vũ khí của T thì nghĩ mọi việc đã được kiểm soát nên chỉ đứng quan sát, không tham gia hay kích động 03 người kia tiếp tục gây thương tích gì thêm cho T.

Giai đoạn 3: Bà H thấy T bị đánh liền chạy tới can S và Q, S cầm cây mã tấu chỉ mặt T và chửi, T chửi lại, Q và Tân vứt 02 cây gỗ xuống đất đi lại về phía hẻm E N tính lấy xe để bỏ đi, nghe T chửi, Quốc tức giận quay lại đến trước cửa nhà số E N nhặt 01 (một) cây mỏ lết đầu có gắn dây xích lao đến để đánh T, T thấy vậy bỏ chạy và vấp té (phù hợp với nội dung kết luận gãy xẹp bở trên 2/3 trước thân sống L1 do tác động gián tiếp theo kiểu dồn ép gây nên. 06 mẫu vật gửi giám định không gây ra được thương tích này), Quốc rượt theo cầm cây mỏ lết đầu có gắn dây xích trên tay phải vụt 01 cái trúng vào phần dưới thắt lưng của T, T tiếp tục đứng lên bỏ chạy vào nhà lấy 01 cây kéo ở chỗ quầy bếp, S cầm cây mã tấu đi theo phía sau tính đuổi vào nhà của T, bà H chạy theo cản lại không cho S vào trong hẻm 52/45 Nguyễn Sỹ S1, S chỉ vết thương cho bà H thấy và hỏi lý do T tấn công S, bà H xin S bỏ qua và hứa sẽ khuyên bảo T.

Giai đoạn 4: T10 và D lấy xe gắn máy tính đi ra hướng đầu hẻm E N, khi đi ngang qua hẻm 52/45 Nguyễn Sỹ S1 thì thấy T đang cầm kéo đứng trước cửa nhà, T10 nói cho S biết, S đứng trước đầu hẻm 52/45 Nguyễn Sỹ S1 cầm cây mã tấu chỉ về hướng của T, cả 02 chửi qua lại, bà H can ngăn không để cho S bước tiếp vào bên trong hẻm tránh xảy ra xô xát, Quốc lúc này đứng phía sau cách khoảng 1,5m quan sát. Lúc này Bùi Xuân T3 chạy xe gắn máy hiệu Honda AirBlade màu trắng bạc BS: 59X2 – 924.94 từ nhà địa chỉ số F T, Phường A, quận G tới, thấy S đang cầm cây mã tấu chỉ vào hướng nhà của ông T có thái độ hung hãn, chửi bới, bà H đứng can ngăn, ông T thì đứng trước cửa nhà, nghĩ S và nhóm người của T10 gây hấn và sử dụng hung khí nên T3 chửi lại S, dắt xe sát tường nhà 52/47 Nguyễn Sỹ S1 rồi cầm lấy dao bầu dài khoảng 40cm trên tay trái chỉ mặt S khiêu khích, T thấy vậy thì tới vị trí T3 đứng cầm cây kéo thách thức (đứng phía bên tay trái của T3), Q đứng phía sau S nhìn thấy T và T3 khiêu khích thì nhanh chóng nhặt lại cây gỗ gần đó cầm trên 02 tay thủ thế, S lùi lại đứng gần với Q (đứng bên tay phải của Q) rồi cả 02 vừa la lớn vừa giơ hung khí lao vào T, T3, 04 người gồm T, T3, S, Q hỗn chiến đập, chém loạn xạ, T10 và D thấy vậy thì quay xe lại, cả 02 xuống xe, T10 đi về nhà số E N lấy cây gỗ vừa sử dụng lúc nãy đứng thủ thế trước cửa nhà này không tham gia, D chạy lại tới trước đầu hẻm E N nhìn, lúc này S vung cây mã tấu chém loạn xạ và bị trượt chân ngã, T3 cầm dao bầu đâm trúng vào phần trán phải của S (phù hợp với vị trí sẹo kích thước trung bình vùng trán phải, sẹo có tóc che phủ: 02% (hai phần trăm) và vị trí nứt bàn ngoài sọ trán phải dài khoảng 35 mm: 13% (mười ba phần trăm) và T cầm kéo tấn công trúng 1 nhát vào phần gáy trái của S (phù hợp với vị trí sẹo kích thước trung bình vùng chẩm trái: 02% (hai phần trăm)). Thấy T nhặt lại cây mã tấu từ S, Q cầm cây đập liên tục vào T, T3, T3 đưa tay đỡ, kết quả đánh trúng vào phần đầu và tay của T3 (phù hợp với vị trí sẹo kích thước trung bình vùng trán phải, sẹo có tóc che phủ: 02% (hai phần trăm) và vết thay đổi sắc tố da 1/3 sau trên cẳng tay phải: 01% (một phần trăm) và trúng vào phần đầu của T (phù hợp với vị trí sẹo kích thước nhỏ vùng trán trái, sẹo có tóc che phủ: 01% (một phần trăm). D chạy tới thấy S bị té tìm cách đứng phía sau kéo S ra ngoài đầu hẻm, Quốc lùi lại thì bị T3 lia dao trúng vào phần gối chân trái của Q (phù hợp với vị trí vùng mặt ngoài gối trái 02% (hai phần trăm), S sau khi lùi ra được đầu hẻm 52/45 Nguyễn Sỹ S1 thì nhặt một miếng gỗ chắn ngang ngực để phòng tiếp tục bị tấn công, Q bị chém 1 nhát chảy nhiều máu nên cũng lùi ra ngoài đứng trước cửa nhà E N, phường A, quận T, D thấy chân của Quốc chảy nhiều máu liền cởi áo quấn chặt để ngăn máu chảy, S chỉ về hướng đầu hẻm 52 Nguyễn Sỹ S1 la lớn công an tới để T, T3 dừng việc tấn công, T, T3 cầm hung khí quan sát không có ai thì vẫn tiếp tục sấn tới, S ném miếng gỗ về phía T, T3 thì Công an phường A, quận T tới.

Kết luận giám định số 23, 24, 25, 26/KLTTCT-PVPYQG ngày 01/02/2024 của V1 – Phân viện tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định:

Mẫu vật so sánh:

  • - Con dao bằng kim loại màu nâu có dính chất bẩn trên bề mặt, dài 46 cm, là vật Bùi Xuân T3 sử dụng (số 1).
  • - Cây kiếm tự chế bằng kim loại màu trắng dài 95,2 cm có dính chất bẩn trên bề mặt, kèm bao kiếm bằng gỗ, là vật của Bùi Quốc T đem từ trong nhà ra, S là người sau khi tước được sử dụng (số B).
  • - Cây kéo làm bằng kim loại, màu đen, rỉ sét, dài 23,2 cm là vật Bùi Quốc T sử dụng (số C).
  • - Mỏ lết đầu có gắn dây xích bằng kim loại, một đoạn màu cam và một đoạn xích màu đen, không rõ hình dạng, tổng chiều dài 47 cm, là vật Nguyễn Kim Q sử dụng (số D).
  • - Cây gỗ hình chữ nhật, màu nâu, dính nhiều chất bẩn, dài 114 cm, có đóng vài cây đinh, một đầu cắt bằng, một đầu bị mẻ vát nhiều tầng, là vật Sái Đức T10 sử dụng (số E).
  • - Cây gỗ màu nâu không rõ hình dạng, dính nhiều chất bẩn, dài 109 cm, các mặt nứt nẻ nhiều chỗ, có một cây đinh, là vật Nguyễn Kim Q sử dụng (số F).

1. Bùi Quốc T:

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Bùi Quốc T tại thời điểm giám định là:

  • - Sẹo kích thước nhỏ vùng trán trái, sẹo có tóc che phủ: 01% (một phần trăm).
  • - Sẹo kích thước trung bình vùng 1/3 dưới sau ngoài cánh tay trái: 02% (hai phần trăm).
  • - Sây sát da hai cẳng tay hiện không còn dấu vết: 00% (không phần trăm).
  • - Gãy xẹp bờ trên 2/3 trước thân sống L1: 21% (hai mươi mốt phần trăm).

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Quốc T tại thời điểm giám định là: 23% (hai mươi ba phần trăm), theo nguyên tắc cộng tại Thông tư.

Kết luận khác:

Thương tích vùng trán của Bùi Quốc T là do vặt sắc hoặc vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên, mẫu vật gửi giám định số 01, số 02, số 04, số E và số 06 có thể gây ra được thương tích này.

Thương tích vùng 1/3 dưới sau ngoài cánh tay trái của Bùi Quốc T là do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên, mẫu vật gửi giám định số 01, số B và số 03 có thể gây ra được thương tích này.

Sây sát da hai cẳng tay hiện không còn dấu vết: không đủ cơ sở xác định vật và cơ chế thình thành thương tích.

Gãy xẹp bờ trên 2/3 trước thân sống L1 do tác động gián tiếp theo kiểu dồn ép gây nên. 06 mẫu vật gửi giám định không gây ra được thương tích này.

Các thương tích trên người của Bùi Quốc T không gây nguy hiểm đến tính mạng.

2. Bùi Xuân T3:

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Bùi Xuân T3 tại thời điểm giám định là:

  • - Sẹo kích thước trung bình vùng trán phải, sẹo có tóc che phủ: 02% (hai phần trăm).
  • - Vết thay đổi sắc tố da 1/3 sau trên cẳng tay phải: 01% (một phần trăm).
  • - Sây sát da gối trái hiện không còn dấu vết: 00% (không phần trăm).

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Xuân T3 tại thời điểm giám định là: 03% (ba phần trăm), theo nguyên tắc cộng tại Thông tư.

Kết luận khác:

Thương tích vùng trán phải của Bùi Xuân T3 là do vật sắc tác động trực tiếp gây nên, mẫu vật gửi giám định số 01 và số 02 có thể gây ra được thương tích này.

Vết thay đổi sắc tố da vùng cằng tay phải của Bùi Xuân T3 là do vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên, mẫu vật gửi giám định số 04, số E và số 06 có thể gây ra được thương tích này.

Sây sát da gối trái hiện không còn dấu vết không đủ cơ sở xác định cơ chế và vật gây thương tích.

Các thương tích trên người của Bùi Xuân T3 không gây nguy hiểm đến tính mạng.

3. Trần Thanh S:

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Trần Thanh S tại thời điểm giám định là:

  • - Sẹo kích thước trung bình vùng trán phải, sẹo có tóc che phủ: 02% (hai phần trăm).
  • - Sẹo kích thước trung bình vùng chẩm trái: 02% (hai phần trăm).
  • - Sẹo kích thước trung bình vùng cánh tay trái: 02% (hai phần trăm).
  • - Nứt bàn ngoài sọ trán phải dài khoảng 35 mm: 13% (mười ba phần trăm).

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thanh S tại thời điểm giám định là: 18% (mười tám phần trăm), theo nguyên tắc cộng tại Thông tư.

Kết luận khác:

Thương tích vùng trán phải, cánh tay trái, nứt bàn ngoài sọ trán phải củaTrần Thanh S là do vật sắc tác động trực tiếp gây nên, mẫu vật gửi giám định số 01 và số 02 có thể gây ra được các thương tích này.

Thương tích vùng chẩm trái, cánh tay trái của Trần Thanh S là do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên, mẫu vật gửi giám định số 03 có thể gây ra được các thương tích này.

Các thương tích trên người của Trần Thanh S không gây nguy hiểm đến tính mạng.

4. Nguyễn Kim Q:

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gối trái của Nguyễn Kim Q tại thời điểm giám định là: 02% (hai phần trăm).

Kết luận khác:

Thương tích vùng mặt ngoài gối trái của Nguyễn Kim Q là do vật sắc hoặc vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên, mẫu vật gửi giám định số 01, số B và số 03 có thể gây ra được thương tích này.

Tiến hành hỏi cung bị cáo Trần Thanh S, bị cáo Nguyễn Kim Q, bị cáo Bùi Quốc T, bị cáo Bùi Xuân T3, bị cáo Sái Đức T10 làm rõ toàn bộ diễn tiến vụ việc, vai trò, hành vi của từng bị cáo, làm rõ thương tích của Trần Thanh S, Nguyễn Kim Q, Bùi Quốc T, Bùi Xuân T3 do người nào gây ra, vật nào tác động để gây ra thương tích. Kết quả hỏi cung xác định được:

  • - Kết thúc buổi hỏi cung, bị cáo Bùi Quốc T thừa nhận vết thương của Trần Thanh S: Sẹo kích thước trung bình vùng cánh tay trái: 02% (hai phần trăm) là do T gây ra bằng cây kiếm tự chế (bằng kim loại màu trắng dài 95,2 cm có dính chất bẩn trên bề mặt, kèm bao kiếm bằng gỗ, là vật của Bùi Quốc T đem từ trong nhà ra), sẹo kích thước trung bình vùng chẩm trái: 02% (hai phần trăm) là do T gây ra bằng cây kéo làm bằng kim loại, màu đen, rỉ sét, dài 23,2 cm.
  • - Kết thúc buổi hỏi cung, bị cáo Bùi Xuân T3 thừa nhận các vết thương của Trần Thanh S gồm: Sẹo kích thước trung bình vùng trán phải, sẹo có tóc che phủ: 02% (hai phần trăm), nứt bàn ngoài sọ trán phải dài khoảng 35 mm: 13% (mười ba phần trăm) và vết thương của Nguyễn Kim Q: Vùng mặt ngoài gối trái 02% (hai phần trăm) do T3 gây ra bằng con dao bằng kim loại màu nâu có dính chất bẩn trên bề mặt, dài 46 cm.
  • - Kết thúc buổi hỏi cung, bị cáo Nguyễn Kim Q thừa nhận vết thương của Bùi Quốc T: Sẹo kích thước nhỏ vùng trán trái, sẹo có tóc che phủ: 01% (một phần trăm), các vết thương của Bùi Xuân T3: Vết thay đổi sắc tố da 1/3 sau trên cẳng tay phải: 01% (một phần trăm), sẹo kích thước trung bình vùng trán phải, sẹo có tóc che phủ: 02% (hai phần trăm) do Nguyễn Kim Q gây ra bằng cây gỗ màu nâu không rõ hình dạng, dính nhiều chất bẩn, dài 109 cm, các mặt nứt nẻ nhiều chỗ, có một cây đinh. Đối với thương tích gãy xẹp bờ trên 2/3 trước thân sống L1: 21% (hai mươi mốt phần trăm) của Bùi Quốc T thì Q không sử dụng hung khí nào trong 02 vật cơ quan điều tra thu giữ để gây ra, nguyên nhân dẫn đến thương tích này lúc cả nhóm tước được cây kiếm tự chế từ T thì Q tính cùng T10 đến chỗ để xe máy lấy xe để bỏ đi, nghe T chửi bới thì Q tức giận quay lại tới trước cửa nhà số E N nhặt 01 (một) cây mỏ lết đầu có gắn dây xích lao tới để đánh T, T thấy vậy thì bỏ chạy và vấp té, cơ thể của T ngã xuống đường.
  • - Kết thúc buổi hỏi cung, bị cáo Trần Thanh S thừa nhận vết thương của Bùi Quốc T: Sẹo kích thước nhỏ vùng trán trái, sẹo có tóc che phủ: 01% (một phần trăm) là do Trần Thanh S gây ra bằng cây kiếm tự chế (bằng kim loại màu trắng dài 95,2 cm có dính chất bẩn trên bề mặt, kèm bao kiếm bằng gỗ, là vật của Bùi Quốc T đem từ trong nhà ra và S giằng lấy).

Vật chứng:

  • - 01 dao bầu dài khoảng 40cm, 01 cây kéo, 01 mỏ lết đầu có gắn dây xích, 01 khúc gỗ dài khoảng 80 cm, 01 khúc gỗ dài khoảng 120cm là hung khí các bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội;
  • - 01 xe máy hiệu Piaggo, biển số 59X2-550.04, thu giữ của Sái Đ. Qua điều tra xác định xe máy trên là của bà Bùi Thị Kha L (vợ của Sái Đức T10). Tối ngày 12/8/2023, T10 lấy xe máy đi công việc sau đó sử dụng xe trên để đi đến nhà của T. Bà L không biết việc T10 sử dụng xe máy trên.
  • - 01 xe máy Honda Vario biển số 59D2 – 263.73, thu giữ của Trần Thanh S. Qua điều tra xác định xe máy trên là của bà Võ Thị Bích P1. P1 và S chung sống như vợ chồng, P1 không viết việc Trần Thanh S sử dụng xe máy trên để đi đánh nhau.
  • - 01 xe máy Honda AirBlade màu trắng bạc BS: 59X2 – 924.94, thu giữ của Bùi Xuân T3. Qua xác minh xác định xe máy trên là của ông Nguyễn Ngọc T9 (bố vợ của T3). Ông T9 cho T3 mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết T3 sử dụng xe đi đánh nhau.

Trách nhiệm dân sự: Các bị hại đồng thời là bị cáo thống nhất tự thỏa thuận, không có yêu cầu bồi thường trong vụ án này.

Tại bản cáo trạng số 143/CT-VKS-TB ngày 12 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố các bị cáo Sái Đức T10, Trần Thanh S, Nguyễn Kim Q, Bùi Quốc T, Bùi Xuân T3 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình trong phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội của bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị xử phạt các bị cáo:

Trần Thanh S đề nghị xử phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù giam.

Nguyễn Kim Q, Bùi Quốc T, Bùi Xuân T3 đề nghị xử phạt từ 15 đến 18 tháng tù giam.

Sái Đức T10 đề nghị xử phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường, không có yêu cầu gì khác nên không xử lý.

Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận, không bào chữa bổ sung, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình, làm lại cuộc đời.

- Các bị hại đồng thời là bị cáo trong vụ án thống nhất tự thỏa thuận và đã bồi thường thiệt hại về phần trách nhiệm dân sự, không có yêu cầu bồi thường gì trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội: Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, Bản kết luận giám định, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận như sau: Hành vi phạm tội của các bị cáo xuất phát từ bị cáo Sái Đức T10 và bị cáo Bùi Quốc T là bạn bè, khi bị cáo T khó khăn, bị cáo T10 cho bị cáo T mượn tiền, khi bị cáo T10 cần, bị cáo T không trả nên vào ngày 12/8/2024, bị cáo T10 rủ các bị cáo Trần Thanh S, Nguyễn Kim Q đến gặp bị cáo Bùi Quốc T11. Mục đích của việc rủ các bị cáo S, Q đến để gặp bị cáo T để đòi tiền vay, không mang hung khí, không có chủ đích để thực hiện hành vi đánh nhau hay cố ý gây thương tích. Tại đây, nhóm của T11 gặp Bùi Quốc T, Bùi Xuân T3, giữa hai bên xảy ra tranh cãi, xô xát. Trong lúc nóng giận, bị cáo T sử dụng mã tấu, kéo lấy từ trong nhà của T; T3 sử dụng hung là dao bầu mang theo đến; T11, S và Q sử dụng mỏ lết, gậy gỗ nhặt được của người dân để gần, các bị cáo gây thương tích cho nhau, cụ thể như sau: Bị cáo Bùi Quốc T bị thương tích với tỷ lệ là 23%; bị cáo Bùi Xuân T3 là 03%; bị cáo Trần Thanh S là 18%; bị cáo Nguyễn Kim Q là 02%. Trong đó, các bị cáo Trần Thanh S và Nguyễn Kim Q cùng chịu trách nhiệm hình sự đối với thương tích gây ra cho bị cáo Bùi Quốc T với tỷ lệ 23%. Bị cáo Bùi Xuân T3 và bị cáo Bùi Quốc T cùng chịu trách nhiệm hình sự đối với thương tích gây ra cho bị cáo Trần Thanh S với tỷ lệ 18%. Đối với bị cáo Bùi Xuân T3 và Trần Thanh S thương tích dưới là 11%, cả 02 có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với người gây thương tích cho mình.

Đối với bị cáo Sái Đức T10 dù không trực tiếp gây ra thương tích cho bị cáo T nhưng bị cáo T10 là người chủ động rủ các bị cáo khác đến để giải quyết nợ với bị cáo T, có tham gia xô xát với bị cáo T giai đoạn đầu. Khi các bị cáo T, T3, S, Quốc xảy ra xô xát gây thương tích, bị cáo T10 biết được hậu quả có thể xảy ra nhưng không can ngăn, bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Do đó, bị cáo T10 có vai trò đồng phạm mang tính chất giản đơn và phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả xảy ra đối với thương tích của bị cáo Bùi Quốc T là 23%.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Bùi Quốc T, Bùi Xuân T3, Sái Đức T10, Nguyễn Kim Q, Trần Thanh S đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, thuộc trường hợp “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1” Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của công dân mà còn xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự xã hội, an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo đã thành niên, nhận thức được hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật và bị trừng trị nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm nhằm mục đích giáo dục các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Đối với đối tượng Hà Hữu D tuy có đi cùng với các bị cáo T10, S, Q nhưng không được các bị cáo rủ đi cùng. Khi đi, D không biết mục đích của các bị T10, S, Quốc đi gặp ai và làm gì, các bị cáo cũng không nói cho D biết mục đích của việc đi gặp bị cáo T để làm gì. Khi các bị cáo T10, S, Q gặp nhóm bị cáo T, T3 và xảy ra hành vi đánh nhau thì D chỉ chứng kiến, không trực tiếp tham gia vào quá trình xô xát nên Cơ quan cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Bùi Quốc T, Bùi Xuân T3, Sái Đức T10 và Nguyễn Kim Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo Trần Thanh S đã từng bị xử lý và chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quá trình giải quyết vụ án gia đình các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại nhằm khắc phục một phần hậu quả, các bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Bùi Quốc T, Bùi Xuân T3 có chú ruột là liệt sỹ, có cha mẹ ruột là người có công với cách mạng để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Các bị cáo Bùi Quốc T, Bùi Xuân T3, Nguyễn Kim Q có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với bị cáo Trần Thanh S có nhân thân xấu, bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục vi phạm nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo S được xác định là tái phạm. Tuy nhiên, bị cáo S cũng là bị hại trong vụ án và có thương tích nặng 18%, bị cáo phạm tội do cả kể, nóng giận, không kiềm chế được bản thân, không được hưởng lợi ích vật chất từ việc đòi nợ cho bị cáo T10.

Đối với bị cáo Sái Đức T10 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian được tại ngoại đã chấp hành pháp luật tốt, không có vi phạm gì tại địa phương. Bị cáo T10 có vai trò thứ yếu trong việc thực hiện hành vi gây thương tích đối với các bị hại. Hành vi của bị cáo là bị động, có một phần lỗi của bị hại là bị cáo T. Bị cáo T là người chủ động tấn công các bị cáo T10, S, Q trước. Do đó, không cần thiết phải tiếp tục các ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung đối với bị cáo cũng như thể hiện tính nhân văn, khoan hồng của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đồng thời là bị cáo đã tự thỏa thuận và đã bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vật chứng vụ án:

  • - Đối với 01 dao bầu dài khoảng 40cm, 01 cây kéo, 01 mỏ lết đầu có gắn dây xích, 01 khúc gỗ dài khoảng 80 cm, 01 khúc gỗ dài khoảng 120cm là hung khí các bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với 01 xe máy hiệu Piaggo, biển số 59X2-550.04, thu giữ của Sái Đ. Qua điều tra xác định xe máy trên đứng tên ông Nguyễn Hùng S2, sinh năm 1985, cư trú: 6 B, phường T, thành phố T. Xe bán qua nhiều người nhưng không thực hiện thủ tục sang tên. Đến khoảng tháng 03/2023 thì được bà Bùi Thị Kha L (vợ của bị cáo Sái Đức T10) mua lại. Bà Ly k số tiền mua xe gắn máy nêu trên là tiền cá nhân của bà L, bị cáo T10 xác định xe gắn máy là tài sản cá nhân của bà L, không phải tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Xét đây là tài sản riêng bà L, bà L không biết bị cáo Tân T10 sử dụng vào hành vi phạm tội và có yêu cầu được nhận lại nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bà L xe gắn máy nêu trên là phù hợp quy định pháp luật.
  • - Đối với 01 xe máy Honda Vario biển số 59D2 – 263.73, thu giữ của Trần Thanh S. Qua điều tra xác định xe máy đứng tên ông Hồ Văn V, sinh năm 1984, địa chỉ: 9 T, phường T, quận T. Ông V khai tháng 11/2022 thì bán lại chiếc xe cho bạn là bà Võ Bích P1, có viết giấy tay nhưng không làm thủ tục sang tên. Bà P1 và bị cáo Trần Thanh S chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, bà P1 không biết việc S sử dụng xe máy trên để đi đánh nhau nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại chiếc xe này cho bà P1.
  • - Đối với 01 xe máy Honda AirBlade màu trắng bạc BS: 59X2 – 924.94, thu giữ của Bùi Xuân T3. Qua xác minh, xe máy trên là của ông Nguyễn Ngọc T9 (bố vợ của T3), sinh năm 1967, địa chỉ: A H, KP3, phường L, thành phố T. Ông T9 khai tháng 08/2023, ông cho T3 mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết T3 sử dụng xe đi đánh nhau nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại chiếc xe này cho ông T9.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 5G, số IMEI: 353842197267857 thu giữ của bị cáo Bùi Xuân T3. Xét, đây là tài sản có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số IMEI: 352620112711543 thu giữ của bị cáo Bùi Quốc T. Xét, đây là tài sản có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11, số IMEI: 355183482950149 thu giữ của bị cáo Sái Đức T10. Bị cáo T10 có dùng điện thoại gọi cho bị cáo S đi công việc, mục đích để gặp bị cáo T đòi tiền vay. Xét, đây là tài sản cá nhân không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max, số IMEI: 35726609991536 thu giữ của bị cáo Trần Thanh S. Bị cáo S sử dụng điện thoại nhận cuộc gọi của bị cáo T10 để đi đòi nợ bị cóa T cho bị T10. Xét, đây là tài sản cá nhân không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với quần áo của các bị cáo mặc khi phạm tội, là vật không có giá trị, các bị cáo không có yêu cầu được nhận lại nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 50, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Bùi Quốc T, Bùi Xuân T3, Nguyễn Kim Q;

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Thanh S;

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Sái Đức T10.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật Phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

  1. Tuyên bố các bị cáo Bùi Quốc T, Bùi Xuân T3, Sái Đức T10, Nguyễn Kim Q và Trần Thanh S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
    1. Xử phạt bị cáo Bùi Quốc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2023.
    2. Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T3 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2023.
    3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2023.
    4. Xử phạt bị cáo Trần Thanh S 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2023.
    5. Xử phạt bị cáo Sái Đức T10 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thứ thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Sái Đức T10 cho Ủy ban nhân dân Phường D1, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

  1. Về vật chứng:
    • Tịch thu, tiêu hủy:
    • + 01 (một) dao bầu dài khoảng 40cm, 01 (một) cây kéo, 01 (một) mỏ lết màu cam đầu có gắn dây xích, 01 (một) khúc gỗ dài khoảng 80 cm, 01(một) khúc gỗ dài khoảng 1m2, 01(một) con dao tự chế dài khoảng 80cm kèm vỏ đựng.
    • + 01 (một) quần của bị cáo Trần Thanh S; 01 (một) bộ quần áo của bị cáo Bùi Xuân T3; 01(một) quần dài màu đen của bị cáo Bùi Quốc T; 01 (một) bộ quần áo của bị cáo Nguyễn Kim Q; 01 (một) quần áo của bị cáo Sái Đức T10.
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
    • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 5G, số IMEI: 353842197267857 thu giữ của bị cáo Bùi Xuân T3.
    • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số IMEI: 352620112711543 thu giữ của bị cáo Bùi Quốc T.
    • - Trả lại cho bị cáo Sái Đức T10 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11, số IMEI: 355183482950149.
    • - Trả lại cho bị cáo Trần Thanh S 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max, số IMEI: 35726609991536.
    • - Trả lại cho bà Bùi Thị Kha L xe máy hiệu Piaggo, biển số 59X2-550.04, số khung: ITMD 10864-3F, số máy: M737M-5011908.
    • - Trả lại cho bà Võ Bích P1 01 xe máy Honda Vario biển số 59D2 – 263.73, số khung: MH1KF116GK800914, số máy: KF1151799012.
    • - Trả lại cho ông Võ Ngọc T12 01 xe máy Honda AirBlade màu trắng bạc BS: 59X2 – 924.94, số khung: 6308FZ347881, số máy: JF63E134790.

    (Theo Biên bản bàn giao vật chứng số 186/BB/2024 ngày 12/9/2024 cơ quan Công an quận T và Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình).

    1. Về án phí:

    Các bị cáo Bùi Quốc T, Bùi Xuân T3, Sái Đức T10, Trần Thanh S, Nguyễn Kim Q mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

    1. Về quyền kháng cáo:

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

    Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Sái Đức T10.

    Nơi nhận:

    • - Bị cáo, bị hại; NCQLNVLQ
    • - Công an quận Tân Bình;
    • - VKSND quận Tân Bình;
    • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
    • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
    • - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM;
    • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
    • - Lưu hồ sơ vụ án.

    TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

    THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    Trần Thị Hồng Út

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 156/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng đầu tháng 8/2023, Sái Đức T10 cho Bùi Quốc T vay số tiền 12.000.000 đồng. Do nhiều lần đòi tiền nhưng T không trả, tối ngày 12/8/2023, T10 gọi điện thoại cho T chửi bới và tiếp tục đòi tiền. Sau đó, T10 gọi cho Trần Thanh S để cùng đến nhà T tại địa chỉ số E N, phường A, quận T đòi nợ, S đồng ý. Cùng lúc, Hà Hữu D điều khiển xe máy chở Nguyễn Kim Q đến nhà của S lấy đồ cá nhân, S rủ Q đi cùng, Q đồng ý, D không được rủ nhưng vẫn chở Q đi cùng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger