Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 156/2023/HS-ST

Ngày: 15-11-2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Lâm;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Ngọc Khải;

Bà Phạm Thị Lan;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Tú và bà Trần Thị Là - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 153/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2023/QĐXXST-HS ngày 01/11/2023, đối với bị cáo:

Bị cáo: Hà Viết T, sinh năm 1982, tại: huyện A, TP .. Giới tính: Nam

Nơi cư trú: thôn M, xã N, huyện A, TP .

Nơi ở hiện nay: Số A đường H, phường L, TP ., tỉnh Hưng Yên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Hà Cao L (đã chết); Con bà: Lương Thị C, sinh năm 1950; Gia đình có 04 anh, chị em, bị cáo là con thứ tư.

Vợ: Lê Thị Kim A, sinh năm 1986 (đã ly hôn).

Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • - Ngày 09/9/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 36 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • - Ngày 10/9/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm tù về tội “Đánh bạc".
  • (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù hai bản án trên ngày 02/5/2018)
  • - Ngày 24/01/2013, bị Công an thành phố H, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong năm 2013.
  • - Ngày 30/8/2020, bị Công an huyện C, tỉnh Hòa Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 04/8/2020.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H, có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty cổ phần P1.

    Địa chỉ: Quốc lộ C, xã B, TP ., tỉnh Hưng Yên.

    Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Hồng K - chức vụ: Giám đốc.

    (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa);

  2. Ông: Phan Lạc Đ, sinh năm 1967.

    Trú tại: số D đường T, phường Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

  3. Anh: Phạm Ngọc N, sinh năm 1984.

    Trú tại: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên.

    Vắng mặt tại phiên tòa

* Những người làm chứng:

  1. Chị: Đỗ Thị T1, sinh năm 1988 (có mặt);

    Trú tại: số A đường H, phường L, TP ., tỉnh Hưng Yên;

  2. Ông: Đỗ Huy P, sinh năm 1966;

    Trú tại: thôn P, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên;

  3. Ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1966;

    Trú tại: thôn T, xã B, TP ., tỉnh Hưng Yên;

  4. Anh: Phan Thành L1, sinh năm 1990;

    Trú tại: số D đường T, phường Q, TP ., tỉnh Hưng Yên;

  5. Anh: Hoàng Tuấn A1 (tên gọi khác B), sinh năm 1990;

    Trú tại: thôn K, phường L, TP., tỉnh Hưng Yên;

  6. Anh: Đỗ Mạnh H1, sinh năm 1990;

    Trú tại: thôn P, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên;

    (Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2022, thông qua mạng xã hội Telegram, Hà Viết T đã sử dụng điện thoại nhãn hiệu Samsung gắn thẻ sim số 0981.344.078 đăng ký tài khoản với tên đăng nhập “DAVIS thăng” và liên hệ với hội nhóm (T không nhớ tên) để thỏa thuận mua thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất, không có tem nhập khẩu (thuốc là điểu nhập lậu) với mục đích sẽ bán lại cho người khác kiếm lời (Chiếc điện thoại trên của T do bị hỏng nên T đã vứt bỏ). Thăng thỏa thuận, mỗi lần muốn mua thuốc lá thì sẽ thông báo số lượng, chủng loại thuốc lá điếu cần mua, số điện thoại liên hệ hội nhóm và thống nhất cách thức giao, nhận thuốc lá đều bằng hình thức vận chuyển qua dịch vụ G1 về thành phố H. Lái xe dịch vụ G sẽ gọi đến số điện thoại của T và thông báo địa điểm nhận hàng, thường là tại khu vực đường đê đoạn ngã ba rẽ vào xã H, thành phố H thuộc địa phận thôn D, xã B, thành phố H. Sau khi kiểm tra, xác định đúng số lượng, chủng loại thuốc lá đã đặt thì T thanh toán tiền mặt cho lái xe dịch vụ G1 và tự lái xe máy mang về cất giấu.

Theo đó, khoảng từ đầu năm 2022 đến tháng 3/2023, T đã nhiều lần đặt mua thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD và BLEND NO.555 ORIGINAL trên mạng xã hội với giá 10.700 đồng/01 bao (Số lần mua và cụ thể mỗi lần mua bao nhiêu đến nay Thăng không nhớ). Tổng số thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất T đã mua là: 3.250 cây thuốc loại 10 bao/01 cây, tương ứng với 32.500 bao. Trong đó, thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD (loại thuốc 555 màu xanh) là 2.300 cây, thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL (thuốc lá 555 màu vàng) là 950 cây.

Để tránh bị phát hiện, T đã cất giấu thuốc lá mua được tại nhiều vị trí kho khác nhau mà T thuê được trên địa bàn huyện K (do thời gian đã lâu hiện T không còn nhớ địa chỉ cụ thể). Đến khoảng tháng 11/2022, T nhờ ông Đỗ Huy P, sinh năm 1966, trú tại: thôn P, xã N, huyện K thuê giúp nhà kho của ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1966, tại thôn T, xã B, thành phố H và cất giấu toàn bộ số thuốc lá trên tại đó (Bản thân ông P không biết các thùng hàng T cất giấu trong kho là thuốc lá điếu nhập lậu).

Đầu tháng 3/2023, thông qua mạng xã hội, T liên hệ được với người phụ nữ có tài khoản Zalo tên M (T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này) có nhu cầu mua thuốc lá và thỏa thuận sẽ bán số thuốc lá điếu nhập lậu trên cho người phụ nữ này với giá: 110.000 đồng/cây, địa điểm giao hàng tại khu vực khu dân cư mới xã P, thành phố H. Thăng nhờ chị Đỗ Thị T1, sinh năm 1988, trú tại: số A đường H, phường L, thành phố H (chị Thủy c sống như vợ chồng với T) thuê giúp xe ô tô để vận chuyển và người bốc vác 37 thùng hàng trên đến địa điểm giao hàng.

Do T không nói là hàng gì nên chiều ngày 15/3/2023, chị T1 đã nhờ Đỗ Mạnh H1, sinh năm 1990 (em trai chị T1) thuê hộ xe và nhờ Phan Thành L1, sinh năm 1990, trú tại: D T, phường Q, thành phố H (là bạn bè xã hội với T và chị T1) đến kho ở xã B để bốc hàng hộ. L1 đồng ý và gọi thêm Hoàng Tuấn A1, sinh năm 1990, trú tại: thôn K, phường L, thành phố H (tên gọi khác là B) và bạn của Tuấn A1 tên là R (L1 và Tuấn A1 không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của R) cùng đến địa điểm để bốc hàng. Anh H1 đã liên hệ và thuê xe của Phạm Ngọc N là chủ xe tải BKS: 37C-327.83 để chở hàng. Còn T điều khiển xe ô tô BKS: 89C-151.12 (Thăng mượn của Công ty cổ phần P1 từ trước) đến địa điểm giao hàng trước để gặp người phụ nữ mua thuốc lá điếu. Sau khi bốc hàng từ kho ở xã B lên xe của N, T1 về nhà và nhắn tin để T gửi vị trí giao hàng, T đã gửi định vị cho Tuấn A1 qua Zalo. Tuấn A1 và R ngồi trên xe chở hàng đã chỉ đường cho anh N theo định vị Thăng gửi còn L1 lái xe mô tô BKS: 89K3-7659 đi theo phía sau. Khi đến nơi, T hướng dẫn anh N lái xe quay thùng xe về phía vỉa hè để bốc dỡ hàng xuống giao cho người phụ nữ. Khoảng 19 giờ ngày 15/3/2023, khi T, Tuấn A1, R, L1 cùng N đang bốc dỡ 37 thùng hàng xuống thì bị Tổ công tác của Công an tỉnh H kiểm tra, do lo sợ nên T cùng cả nhóm đã bỏ chạy để lại xe ô tô BKS: 89C-151.12 và xe mô tô BKS: 89K3-7659 tại hiện trường. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra phát hiện:

  • - Trên xe ô tô BKS: 37C - 327.83 có 23 thùng, gồm 18 thùng gỗ và 05 thùng Catton. Trong 23 thùng này chứa: 1400 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD và 650 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL, đều loại 10 bao/01 cây (trên bao bì chỉ ghi chữ nước ngoài, không ghi chữ Việt Nam).
  • - Tại khu vực vỉa hè cạnh xe ô tô BKS: 37C-327.83 có 14 thùng, gồm: 12 thùng gỗ và 02 thùng Catton. Trong 14 thùng này chứa: 900 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD và 300 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL, đều loại 10 bao/01 cây (trên bao bì chỉ ghi chữ nước ngoài, không ghi chữ Việt Nam).

Tổng số thuốc lá điếu thu giữ là: 3.250 cây, loại 10 bao/cây (32.500 bao), trong đó: thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD là 2.300 cây (23.000 bao), thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL là 950 cây ( 9.500 bao).

  • - Kiểm tra xe ô tô BKS: 89C-151.12, tại khoang buồng lái có: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14; 01 đồng hồ màu bạc nhãn hiệu INVICTA.

Tổ công tác của Công an tỉnh H đã thu giữ toàn bộ phương tiện, vật chứng có liên quan và niêm phong theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số: 1892/KL-KTHS ngày 16/3/2023 của V - Bộ C2 đã kết luận:

Toàn bộ 23.000 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc) đều mang nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD, không dán tem nhập khẩu, không có chữ viết tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD, cùng loại với thuốc lá điếu so sánh mang nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD được sản xuất tại nước ngoài.

Toàn bộ 9.500 bao thuốc lá (mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL, không dán tem nhập khẩu, không có chữ viết tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL, cùng loại với thuốc lá điếu so sánh mang nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL được sản xuất tại nước ngoài.

Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định đều là thuốc lá điếu không được tiêu thụ tại Việt nam.

Ngày 25/3/2023, Hà Viết T tự nguyện đến Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H tự thú và thành khẩn khai nhận về hành vi mua, bán thuốc lá điếu nhập lậu như nêu trên. Thăng xác định chiếc điện thoại Iphone 14 và chiếc đồng hồ màu bạc nhãn hiệu INVICTA trên khoang buồng lái của xe ô tô mà Cơ quan điều tra quản lý được là của T. Kết quả tra cứu điện thoại xác định có nhiều nội dung tin nhắn qua Zalo thể hiện việc T thỏa thuận bán thuốc lá điếu với tài khoản Z mang tên M.

Đối với các cá nhân có liên quan đến vụ án gồm: Ông Nguyễn Văn H, ông Đỗ Huy P là người cho thuê kho và thuê kho hộ cho T tại thôn T, xã B, thành phố H; chị Đỗ Thị T1 là người được T nhờ thuê hộ xe chở hàng cho T ngày 15/3/2023; Phan Thành L1, Hoàng Tuấn A1 vận chuyển các thùng gỗ và thùng Catton từ kho thuộc thôn T, xã B, thành phố H lên xe ô tô tải đến khu vực dân cư mới xã P, thành phố H và anh Phạm Ngọc N là chủ xe ô tô BKS: 37C-327.83 được chị T1 thuê chở hàng chiều ngày 15/3/2023. Quá trình điều tra, xác định: các cá nhân trên đều không biết trong các thùng Catton, thùng gỗ của T chứa thuốc lá điếu nhập lậu, không biết và không tham gia cùng T mua, bán thuốc lá điếu nhập lậu. Do đó, không có căn cứ xử lý. Ngày 02/8/2023, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H đã trả lại xe ô tô BKS 37C-327.83 cho anh Phạm Ngọc N. Anh N đã nhận lại xe và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với người bán thuốc lá điếu nhập lậu cho T; Người phu nữ mua thuốc lá điếu nhập lậu của T và thanh niên tên R là bạn của Hoàng Tuấn A1 tham gia bốc dỡ hàng hóa cùng Tuấn A1 ngày 15/3/2023. Do không xác định được thông tin, địa chỉ nên không có cơ sở xác minh xử lý theo quy định.

Đối với xe ô tô BKS: 89C-151.12 thu giữ tại hiện trường, quá trình điều tra xác định: Chiếc xe là tài sản của Công ty cổ phần P1, địa chỉ: xã B, thành phố H (Đăng ký xe đứng tên Công ty cổ phần P1) do Phòng quản lý hành chính, nhân sự Công ty quản lý. Khoảng 17 giờ ngày 15/3/2023, T đến Công ty P1 gặp ông Lương Xuân C1 - Trưởng phòng quản lý hành chính, nhân sự mượn chiếc xe trên để đi lại. Do ông C1 có quen biết với T từ trước nên đã đồng ý cho T mượn. Công ty P1 và ông C1 không biết T sử dụng xe vào việc gì, ngày 02/8/2023, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H đã trả lại chiếc xe trên cho Công ty P1, Công ty đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì.

Đối với xe mô tô BKS 89K3-7659 đã thu giữ tại hiện trường, quá trình điều tra xác định: Chiếc xe thuộc sở hữu của ông Phan Lạc Đ, sinh năm 1967, trú tại: D T, phường Q, thành phố H (bố của Phan Thành L1), ông Đ cho L1 mượn để đi lại, ông không biết, không liên quan việc L1 sử dụng chiếc xe trên để đi vận chuyển hàng cho T ngày 15/3/2023. Ngày 02/8/2023, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Phan Lạc Đ. Ông Đ nhận xe và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Cáo trạng số: 161/CT-VKS-P3 ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo Hà Viết T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Hà Viết T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm b khoản 3 điều 190; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; khoản 1 điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Viết T từ 08 năm 06 tháng tù đến 08 năm 09 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 26/3/2023.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và một số nội dung khác theo quy định.

Bị cáo nhất trí và không tranh luận với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Kết luận giám định số: 1892/KL-KTHS ngày 16/3/2023 của V - Bộ C2, phù hợp khách quan với lời khai của người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng đầu năm 2022, thông qua mạng xã hội T2, Hà Viết T đã sử dụng điện thoại di động đăng ký tài khoản với tên đăng nhập “DAVIS thăng" và liên hệ với hội nhóm để thỏa thuận mua thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất, không có tem nhập khẩu (thuốc là điểu nhập lậu) với mục đích sẽ bán lại cho người khác kiếm lời. Bị cáo thỏa thuận, mỗi lần muốn mua thuốc lá thì sẽ thông báo số lượng, chủng loại thuốc lá điếu cần mua, số điện thoại liên hệ hội nhóm và thống nhất cách thức giao, nhận thuốc lá đều bằng hình thức vận chuyển qua dịch vụ G1 về thành phố H. Lái xe dịch vụ G sẽ gọi đến số điện thoại của T và thông báo địa điểm nhận hàng, thường là tại khu vực đường đê đoạn ngã ba rẽ vào xã H, thành phố H thuộc địa phận thôn D, xã B, thành phố H. Sau khi kiểm tra, xác định đúng số lượng, chủng loại thuốc lá đã đặt thì T thanh toán tiền mặt cho lái xe dịch vụ G1 và tự lái xe máy mang về cất giấu.

Theo đó, khoảng từ đầu năm 2022 đến tháng 3/2023, bị cáo đã nhiều lần đặt mua thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD và BLEND NO.555 ORIGINAL trên mạng xã hội với giá 10.700 đồng/01 bao. Tổng số thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất bị cáo đã mua là: 3.250 cây thuốc loại 10 bao/ 01 cây, tương ứng với 32.500 bao. Trong đó, thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD (loại thuốc 555 màu xanh) là 2.300 cây, thuốc lá điếu nhãn hiệu BLED NO.555 ORIGINAL (thuốc lá 555 màu vàng) là 950 cây.

Đầu tháng 3/2023, thông qua mạng xã hội, bị cáo liên hệ được với người phụ nữ có tài khoản Zalo tên M (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này) có nhu cầu mua thuốc lá và thỏa thuận sẽ bán số thuốc lá điếu nhập lậu trên cho người phụ nữ này với giá: 110.000 đồng/cây, địa điểm giao hàng tại khu vực khu dân cư mới xã P, thành phố H. Bị cáo nhờ người thuê xe và người bốc vác để vận chuyển số thuốc lá đã mua đến địa điểm giao hàng.

Khoảng 19 giờ ngày 15/3/2023, tại khu dân cư mới xã P, thành phố H, khi T và các đối tượng đang bốc dỡ 37 thùng hàng xuống thì bị Tổ công tác của Công an tỉnh H kiểm tra, do lo sợ nên T cùng cả nhóm đã bỏ chạy để lại xe ô tô BKS: 89C-151.12 và xe mô tô BKS: 89K3-7659 tại hiện trường. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra phát hiện:

  • - Trên xe ô tô BKS: 37C - 327.83 có 23 thùng, gồm 18 thùng gỗ và 05 thùng Catton. Trong 23 thùng này chứa: 1.400 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD và 650 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL, đều loại 10 bao/01 cây (trên bao bì chỉ ghi chữ nước ngoài, không ghi chữ Việt Nam).
  • - Tại khu vực vỉa hè cạnh xe ô tô BKS: 37C-327.83 có 14 thùng, gồm: 12 thùng gỗ và 02 thùng Catton. Trong 14 thùng này chứa: 900 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD và 300 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL, đều loại 10 bao/01 cây (trên bao bì chỉ ghi chữ nước ngoài, không ghi chữ Việt Nam).

Tổng số thuốc lá điếu thu giữ là: 3.250 cây, loại 10 bao/cây (32.500 bao), trong đó thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD là 2.300 cây (23.000 bao), thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL là 950 cây ( 9.500 bao).

Căn cứ Luật Phòng chống tác hại thuốc lá số: 09/2012/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2013 tại Khoản 1, Điều 9 (các hành vi bị nghiêm cấm): Sản xuất, mua bán, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá giả, sản phẩm được thiết kế có hình thức hoặc kiểu dáng như bao, gói hoặc điếu thuốc lá; mua bán, tàng trữ, vận chuyển nguyên liệu thuốc lá, thuốc lá nhập lậu. Kinh doanh, bán buôn/bán lẻ thuốc lá là một trong những lĩnh vực hạn chế kinh doanh, việc nhập khẩu thuốc lá lậu về kinh doanh tại Việt Nam sẽ bị pháp luật xử lý dưới tội danh buôn lậu. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo vẫn cố ý mua bán trái phép thuốc lá với động cơ, mục đích vụ lợi. Bị cáo mua, bán tổng số lượng 32.500 bao thuốc lá điếu nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm b khoản 3 điều 190 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như vậy là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với thuốc lá điếu có nguồn gốc, xuất xứ từ nước ngoài. Đây là loại hàng hoá mà Nhà nước cấm, không cho phép buôn bán, tiêu thụ rộng rãi tại Việt Nam mà chỉ các tổ chức cá nhân được Nhà nước cấp phép mới được nhập và bán ra thị trường. Nhưng vì động cơ, mục đích thu lời bất chính bị cáo đã bất chấp các quy định cấm của Nhà nước đối với thuốc lá nhập lậu, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xét xử và dành cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận và ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố, mẹ đẻ được tặng thưởng Huân chương, Huy chương kháng chiến hạng Nhất và hạng Ba. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với quan điểm của bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề xuất và đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư quy định tại điểm r khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự với lý do: Khi bắt quả tang T cùng đồng bọn bỏ chạy, sau đó Đỗ Thị T1 có khai số thuốc lá này thuộc sở hữu của T nên chưa có căn cứ xác định số thuốc lá nhập lậu là của bị cáo T buôn bán. Đến ngày 25/3/2023, T tự nguyện ra cơ quan công an khai báo và tự mở khóa chiếc điện thoại của T thì lúc này mới có căn cứ xác định hành vi phạm tội của T. Xét thấy: Sau khi Cơ quan Công an bắt quả tang thì T cùng các đối tượng bỏ chạy khỏi hiện trường, Cơ quan điều tra đã thu giữ số thuốc lá trên nhưng ngày 20/3/2023, Đỗ Thị T1 đã tự nguyện khai báo số thuốc lá bị thu giữ là của Hà Viết T (thể hiện tại lời khai và Bản tự khai của T1). Như vậy, thể hiện Cơ quan điều tra đã biết số thuốc lá này thuộc quyền sở hữu của T. Việc T tự nguyện đến Cơ quan điều tra khai báo hành vi và tự mở mật khẩu chiếc điện thoại của T có các nội dung về việc giao dịch mua, bán thuốc lá, hành vi này của T đã được hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận quan điểm của bị cáo T và đề xuất của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Về đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án các địa phương khác nhau xét xử về các tội danh khác nhau và nhiều lần bị Cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đến nay đã được xóa.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Xét thấy, mặc dù bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điều 51 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo vi phạm trật tự quản lý kinh tế, không phải là đối tượng hình sự nguy hiểm. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần xét xử về các tội danh khác nhau nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội mà với mục đích vụ lợi bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tiếp tục cách li bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian như nội dung đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Do vậy, miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy số thuốc lá hoàn lại sau giám định: 1.950 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD; 800 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL là vật chứng của vụ án do không còn giá trị sử dụng;
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 thu giữ của bị cáo T. Đây là công cụ bị cáo sử dụng để liên lạc mua, bán thuốc lá nên cần tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 đồng hồ đeo tay màu bạc, nhãn hiệu INVICTA là tài sản của cá nhân bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trả lại cho bị cáo sử dụng.
  • - Đối với 01 điện thoại di động thu của chị Đỗ Thị T1 và 01 điện thoại di động thu của anh Phạm Ngọc N là tài sản của cá nhân chị T1 và anh N không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cần trả lại cho chị T1, anh N để sử dụng.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Tuyên bố: Bị cáo Hà Viết T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

    Áp dụng: Điểm b khoản 3 điều 190; điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51; khoản 1 điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Hà Viết T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 26/3/2023.

  2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 46; 47 và điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 1.950 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) nhãn hiệu BLEND NO.555 GOLD; 800 cây thuốc lá (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) nhãn hiệu BLEND NO.555 ORIGINAL; 27 vỏ thùng gỗ đã qua sử dụng (thu giữ tại hiện trường);
    • - Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 thu của bị cáo T. Trả lại bị cáo T 01 đồng hồ đeo tay màu bạc, nhãn hiệu INVICTA;
    • - Trả lại chị Đỗ Thị T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đen, số IMEI: 356737119018833;
    • - Trả lại anh Phạm Ngọc N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số IMEI: 355328085616734;
    • (Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/11/2023 giữa Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh H).
  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND Tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cq CSĐT- Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo (qua TTG)
  • - Bị hại;
  • - Người có QL&NVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VPCQ, Tòa hình sự./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về buôn bán hàng cấm (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 156/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Viết T phạm tội Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger